QUAN HỆ VIỆT - MỸ (1944-1945)

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939) ở châu Âu và nhanh chóng lan rộng ra phạm vi toàn thế giới. Ở Châu Á Thái bình dương phát xít Nhật tăng cường công cuộc xâm lược Trung Quốc và tiến xuống xâm lược Đông Dương.

Ngày 22/06/1941 phát xít Đức tiến công Liên xô; ngày 7/12/1941, Nhật tiến công quân Mỹ tại Trân châu cảng (Chiến dịch Hawaii), từ đó Mỹ đặc biệt quan tâm đến mặt trận châu Á - Thái bình Dương và Đông Dương.

Trước sự chuyển biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng ta quyết định sự thay đổi chiến lược từ Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (1939), qua Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (1940), đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Tám (5.1941) được hoàn thiện.

Trong hoàn cảnh đó, từ tháng 10/1938, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô tìm đường về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam; đến sáng ngày 28/01/1941 (tức mồng 2 tết Tân Tỵ), Nguyễn Ái Quốc rời đất Trung Quốc về Pắc Bó, Cao Bằng.

Sau một thời gian nắm tình hình và chuẩn bị những công việc của Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị tiến hành từ ngày 10 đến 19/05/1941, với sự tham dự của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, đại biểu Xứ uỷ Bắc Kì và Trung Kì và một số đại biểu hoạt động nước ngoài.

Hội nghị xác định nhiệm vụ đánh Pháp, đuổi Nhật không phải là nhiệm vụ riêng của giai cấp công nông mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương. Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới quyền lợi của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “Cách mạng ruộng đất”, giương cao khẩu hiệu “Độc lập dân tộc”.

Hội nghị chủ trương “quyền dân tộc tự quyết, giải quyết vần đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương; để thức tỉnh tinh thần dân tộc của các nước trên bán đảo Đông Dương; thành lập ở mỗi nước một Mặt trận dân tộc thống nhât rộng rãi. Ở Việt Nam, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) được thành lập. Các tổ chức quần chúng của Mặt trận đều lấy tên thống nhất là “Hội cứu quốc”, như “Hội Công nhân cứu quốc”, v.v…

Hội nghị đã chính thức bầu ra Ban chấp hành Trung ương mới với một Ban Thường vụ gồm có các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, do đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư.

Hội nghị lần 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh đường lối đấu tranh mới của Đảng được nêu ra ở Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (11/1939). Đó là đặt nhiệm vụ giải hpóng dân tộc lên hàng đầu, đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trong Mặt Trận Việt Minh, xây dựng lực lượng quần chúng ở cả nông thôn và thành thị; tiến tới xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang; tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt đón thời cơ khởi nghĩa giành độc lập.

Ngày 19/05/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh ra đời, tháng 10/1941, Việt Minh công bố tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ. Tuyên ngôn nêu rõ: “Từ khi lập quốc, xét lịch sử nước ta, chưa bao giờ dân tộc ta nhục nhằn, đau khổ như lúc này”. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm, bao gồm các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhắm thực hiện hai điều cốt yếu mà quốc dân đồng bào đang mong ước là:

“1. Làm cho dân Việt Nam được hoàn toàn độc lập.

2. Làm cho dân tộc Việt Nam được sung sướng, tự do”

Chương trình cứu nước của Việt Minh sau khi được đúc kết thành 10 chính sách lớn đem thực hiện ở Khu giải phóng Việt Bắc và được Đại hội Quốc dân ở Tân Trào thông qua ngày16-17/8/1945, trở thành chính sách cơ bản sau này của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (05/1941) và Thư kêu gọi toàn dân đánh đuổi Pháp-Nhật của Nguyễn Ái Quốc (06/06/1940), Đảng ta chính thức chuẩn bị xây dựng lực lượng cách mạng (chính trị và vũ trang) để tiến lên khởi nghĩa vũ tranh giành chính quyền về sau này:

+ Lực lượng chính trị được hình thành.

Ngày 19/5/1941 Mặt trận Việt Minh được thành lập. Cao Bằng là địa phương được Đảng ta và Hồ Chí Minh lựa chọn để thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh.Do đáp ứng đúng nguyện vọng của quần chúng nhân dân nên chỉ trong thời gian ngắn mặt trận Việt Minh đã phát triển nhanh chóng.

Đến cuối năm 1941, khắp 9 châu của tỉnh Cao Bằng đều đã xây dựng được các tổ chức của Mặt trận Việt Minh. Nhiều xã, tổng ở Cao Bằng tất cả mọi người đều tham gia Việt Minh (gọi là “xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”). Đến cuối năm 1942, Cao Bằng có 3/9 châu là Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình, trở thành “châu hoàn toàn”.Ở những nơi này, bộ máy chính quyền địch chỉ tồn tại về mặt hình thức, còn thực tế quyền hành do Việt Minh nắm giữ.

Phong trào Việt Minh, phát triển từ Cao Bằng, đến các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên.

Chủ trương của Mặt trận Việt Minh cũng đến được một số bộ phận đảng viên còn lại ở Nam Kì. Vì vậy, ở một số nơi thuộc ngoại thành Sài Gòn, vùng Bà Điểm, Hoóc Môn (Gia Định), Đức Hoà (Chợ Lớn), Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) đã xuất hiện cơ sở của Việt Minh.

Một số nơi ở Nam Kì do chưa nhận được chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, cán bộ Đảng và quần chúng yêu nước đã lập ra tổ chức quần chúng với các hình thức, như “Nhóm công nhân nòng cốt”, “Hội đá banh”, “Hội đổi công”, “Hội tương tế”… khi có chủ trương thì các Hôi này được chuyển đổi thành các tổ chức cứu quốc. Những tổ chức này đã góp phần vào việc bảo vệ cán bộ, đảng viên, giữ vững tinh thần cho quần chúng trong hoàn cảnh bị khủng bố trắng.

+ Xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng

Tiền thân từ đội du kích trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, được Đảng ta tổ chức lại thành đội Cứu quốc quân, đây là lực lượng nòng cốt để xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai.

Sau hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng, “Trung đội đội du kích Bắc Sơn 1” đổi tên thành “Trung đội cứu quốc quân I”.

Ngày 15/09/1941, Trung đội Cứu quốc quân II được thành lập tại rừng Khuôn Máy (xã Tràng Xá, châu Vũ Nhai). Trung đội cứu quốc quân II lúc đầu có 47 chiến sĩ, chia thành 5 tiểu đội. Sau khi thành lập, Ban chỉ huy Cứu quốc quân II đã có chủ trương đẩy mạnh hoạt động theo hình thức chiên stranh du kích, phân công các đơn vị đến các địa phương đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ nhân dân. Mục tiêu chiến đấu của Cứu quốc quân lúc này là trừng trị những tên mật thám đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân; phá các cuộc hành quân càng quét của địch. Địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn.

Ở Nam Kì, sau cuộc khởi nghĩa 23/11/1940, những Đảng viên còn lại đã lãnh đạo các đội quân tiếp tục hoạt động chiến tranh du kích thực hiện diệt ác, trừ gian, tuyên truyền cách mạng.

Trên tinh thần đó, ở Bắc Trung Kì, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đề ra chủ trương thành lập căn cứ địa cách mạng, làm cơ sở phát triển lực lượng, thúc đẩy phong trào phản đế. Tỉnh ủy chọn vùng Ngọc Trạo để xây dựng chiền khu ở vùng Đông Bắc của tỉnh. Tháng 7/1941, Ban lãnh đạo chiến khu được thành lập, Đội du kích Ngọc Trạo cũng ra đời với 21 đội viên. Cuối tháng 9/1941, Đội tăng lên 80 đội viên, ảnh hưởng và phạm vi chiến khu ngày càng lan rộng.  Thực dân Pháp đã điều lực lượng đến đàn áp. Do chênh lệch về quân số, lại thiếu kinh nghiệm và vũ khí, Đội du kích bị tổn thất lớn. Ban lãnh đạo chiến khu ra lệnh cho Đội du kích ra khỏi Ngọc Trạo phân tán về các địa phương. Cuối tháng 10 /1941, chiến khu Ngọc Trạo chấm dứt hoạt động.

 

Trong thời gian này, Đảng ta cũng đề ra chủ trương đối ngoại đúng đắn, tranh thủ sự ủng hộ từ bên ngoài, góp phần vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, ủng hộ Liên bang Xô viết, giao thiệp với chính phủ kháng chiến Trung quốc, thực hiện khẩu hiệu “Hoa – Việt kháng Nhật trên đất Đông Dương” trên nguyên tắc “bình đẳng, tương trợ” và liên hiệp có điều kiện với Anh – Mỹ để chống phát xít Nhật giành độc lập.

Với tinh thần trên, ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc (với tên ghi trên giấy tờ tùy thân là Hồ Chí Minh) lên đường sang Trung Quốc để liên hệ với các lực lượng cách mạng ngừơi Việt Nam và Đồng minh, nhằm tranh thủ sự viện trợ từ bên ngoài.

Ngày 27/8/1942, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 13 tháng, sau đó tướng Quốc dân Đảng là Trương Phát Khuê quyết định trả tự do cho Người. Việc làm của Trương Phát Khuê nhằm lợi dụng Nguyễn Ái Quốc và một số yếu nhân theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống phát xít Nhật.

Sau khi ra tù, Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp chủ động tìm cách liên hệ với quân Đồng Minh để chống phát xít Nhật. Cuối 1944, một máy bay do thám Mỹ bị quân Nhật bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, Trung úy phi công William Saw nhảy dù xuống Cao Bằng và được Việt Minh cứu thoát khỏi vòng vây của Nhật-Pháp. Ngày 2/11/1944, Hồ Chí Minh đã tiếp Trung úy Saw một cách thân mật và Người tìm cách đưa viên phi công về Trung Quốc cho Tập đoàn không quân số 14 Mỹ. Đầu tháng 3/1945, nhân danh lực lượng Việt Nam giải cứu cho Trung úy Saw, Hồ Chí Minh tiếp xúc với AGAS. Phía Mỹ cảm ơn và tặng người thuốc men, tiền bạc. Người không nhận tiền. Ngày 17/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Charles Fenn - Trung úy OSS (cơ quan tình báo chiến lược Mỹ). Charles Fenn đã thỏa thuận trên nguyên tắc giúp đỡ Việt Minh. Ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Trung tướng Chennault tại Côn Minh (Trung Quốc). Trung tướng cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu. Còn Hồ Chí Minh Người khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật. Cuộc gặp diễn ra trong không khí tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, những quan điểm lớn đầu tiên giữa Việt Nam và Mỹ được thống nhất [30, tr.243].

Sau khi Bác về nước, Người vẫn giữ mối liên lạc với các cơ quan quân sự Mỹ. Tháng 6/1945, phía Mỹ, thông qua Thiếu tá A.Patty yêu cầu phía Việt Minh chuẩn bị một sân bay cho máy bay cỡ nhỏ có thể lên, xuống được, và Mỹ sẽ cho một đội sĩ quan, do một sĩ quan cao cấp sẽ nhảy dù xuống Tuyên Quang. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Bác giao nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm làm sân bay. Sân bay được đặt tại hai xã Lũng Cò và xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. “Ngày 17/7/1945 đội “Con Nai” gồm 5 người do Thiếu tá Mỹ E.Tômat phụ trách nhảy dù xuống Tân Trào”, làm nhiệm vụ hoạt động huấn luyện cho khoảng 2000 bộ đội ta. Cho đến khi cách mạng tháng Tám thành công, người “bạn” ngoại quốc đầu tiên có mặt bên cạnh Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng chính là Hoa Kỳ…Thế nhưng, vì nhiều lí do khác nhau OSS không những đã bỏ lỡ cơ hội thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam mà còn đưa đến một kết cục bi thảm: Việt Nam và Mỹ từ chỗ cùng là đồng minh trong cuộc chiến chống phát xít Nhật ở châu Á dần dần đã trở thành kẻ thù “không đội trời chung” trong cuộc chiến ở Đông Dương và Việt Nam về sau này.

Có thể nói, quan hệ Việt – Mỹ được hình thành từ cuộc chiến chống phát xít Nhật. Trên tinh thần hiểu biết, cần nhau trong cuộc chiến nên Hồ Chí Minh và Việt Minh luôn mong muốn có sự ủng hộ giúp đỡ về mọi mặt của Mỹ, Đồng Minh; ngược lại Mỹ cùng Đồng minh lại hết sức mong muốn có một chỗ đứng ở Đông Dương – vị trí chiến lược quan trọng ở châu Á - Thái bình dương trong cuộc chiến tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.


TS. Phạm Văn Lực

Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc