QUAN HỆ VIỆT - MỸ (1944-1945)

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (1939) ở châu Âu và nhanh chóng lan rộng ra phạm vi toàn thế giới. Ở Châu Á Thái bình dương phát xít Nhật tăng cường công cuộc xâm lược Trung Quốc và tiến xuống xâm lược Đông Dương.

Ngày 22/06/1941 phát xít Đức tiến công Liên xô; ngày 7/12/1941, Nhật tiến công quân Mỹ tại Trân châu cảng (Chiến dịch Hawaii), từ đó Mỹ đặc biệt quan tâm đến mặt trận châu Á - Thái bình Dương và Đông Dương.

Trước sự chuyển biến của cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng ta quyết định sự thay đổi chiến lược từ Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (1939), qua Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 7 (1940), đến Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ Tám (5.1941) được hoàn thiện.

Trong hoàn cảnh đó, từ tháng 10/1938, Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô tìm đường về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam; đến sáng ngày 28/01/1941 (tức mồng 2 tết Tân Tỵ), Nguyễn Ái Quốc rời đất Trung Quốc về Pắc Bó, Cao Bằng.

Sau một thời gian nắm tình hình và chuẩn bị những công việc của Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị tiến hành từ ngày 10 đến 19/05/1941, với sự tham dự của các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, đại biểu Xứ uỷ Bắc Kì và Trung Kì và một số đại biểu hoạt động nước ngoài.

Hội nghị xác định nhiệm vụ đánh Pháp, đuổi Nhật không phải là nhiệm vụ riêng của giai cấp công nông mà là nhiệm vụ chung của toàn thể nhân dân Đông Dương. Trong lúc này quyền lợi của bộ phận giai cấp phải đặt dưới quyền lợi của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.

Hội nghị tiếp tục thực hiện chủ trương tạm gác khẩu hiệu “Cách mạng ruộng đất”, giương cao khẩu hiệu “Độc lập dân tộc”.

Hội nghị chủ trương “quyền dân tộc tự quyết, giải quyết vần đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước ở Đông Dương; để thức tỉnh tinh thần dân tộc của các nước trên bán đảo Đông Dương; thành lập ở mỗi nước một Mặt trận dân tộc thống nhât rộng rãi. Ở Việt Nam, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) được thành lập. Các tổ chức quần chúng của Mặt trận đều lấy tên thống nhất là “Hội cứu quốc”, như “Hội Công nhân cứu quốc”, v.v…

Hội nghị đã chính thức bầu ra Ban chấp hành Trung ương mới với một Ban Thường vụ gồm có các đồng chí: Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, do đồng chí Trường Chinh làm Tổng bí thư.

Hội nghị lần 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã hoàn chỉnh đường lối đấu tranh mới của Đảng được nêu ra ở Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (11/1939). Đó là đặt nhiệm vụ giải hpóng dân tộc lên hàng đầu, đoàn kết rộng rãi mọi lực lượng yêu nước trong Mặt Trận Việt Minh, xây dựng lực lượng quần chúng ở cả nông thôn và thành thị; tiến tới xây dựng căn cứ địa cách mạng và lực lượng vũ trang; tích cực chuẩn bị lực lượng mọi mặt đón thời cơ khởi nghĩa giành độc lập.

Ngày 19/05/1941, Việt Nam Độc lập đồng minh ra đời, tháng 10/1941, Việt Minh công bố tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ. Tuyên ngôn nêu rõ: “Từ khi lập quốc, xét lịch sử nước ta, chưa bao giờ dân tộc ta nhục nhằn, đau khổ như lúc này”. Chương trình cứu nước của Việt Minh gồm 44 điểm, bao gồm các chính sách về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhắm thực hiện hai điều cốt yếu mà quốc dân đồng bào đang mong ước là:

“1. Làm cho dân Việt Nam được hoàn toàn độc lập.

2. Làm cho dân tộc Việt Nam được sung sướng, tự do”

Chương trình cứu nước của Việt Minh sau khi được đúc kết thành 10 chính sách lớn đem thực hiện ở Khu giải phóng Việt Bắc và được Đại hội Quốc dân ở Tân Trào thông qua ngày16-17/8/1945, trở thành chính sách cơ bản sau này của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.

Thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (05/1941) và Thư kêu gọi toàn dân đánh đuổi Pháp-Nhật của Nguyễn Ái Quốc (06/06/1940), Đảng ta chính thức chuẩn bị xây dựng lực lượng cách mạng (chính trị và vũ trang) để tiến lên khởi nghĩa vũ tranh giành chính quyền về sau này:

+ Lực lượng chính trị được hình thành.

Ngày 19/5/1941 Mặt trận Việt Minh được thành lập. Cao Bằng là địa phương được Đảng ta và Hồ Chí Minh lựa chọn để thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh.Do đáp ứng đúng nguyện vọng của quần chúng nhân dân nên chỉ trong thời gian ngắn mặt trận Việt Minh đã phát triển nhanh chóng.

Đến cuối năm 1941, khắp 9 châu của tỉnh Cao Bằng đều đã xây dựng được các tổ chức của Mặt trận Việt Minh. Nhiều xã, tổng ở Cao Bằng tất cả mọi người đều tham gia Việt Minh (gọi là “xã hoàn toàn”, “tổng hoàn toàn”). Đến cuối năm 1942, Cao Bằng có 3/9 châu là Hoà An, Hà Quảng, Nguyên Bình, trở thành “châu hoàn toàn”.Ở những nơi này, bộ máy chính quyền địch chỉ tồn tại về mặt hình thức, còn thực tế quyền hành do Việt Minh nắm giữ.

Phong trào Việt Minh, phát triển từ Cao Bằng, đến các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên.

Chủ trương của Mặt trận Việt Minh cũng đến được một số bộ phận đảng viên còn lại ở Nam Kì. Vì vậy, ở một số nơi thuộc ngoại thành Sài Gòn, vùng Bà Điểm, Hoóc Môn (Gia Định), Đức Hoà (Chợ Lớn), Lái Thiêu (Thủ Dầu Một) đã xuất hiện cơ sở của Việt Minh.

Một số nơi ở Nam Kì do chưa nhận được chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh, cán bộ Đảng và quần chúng yêu nước đã lập ra tổ chức quần chúng với các hình thức, như “Nhóm công nhân nòng cốt”, “Hội đá banh”, “Hội đổi công”, “Hội tương tế”… khi có chủ trương thì các Hôi này được chuyển đổi thành các tổ chức cứu quốc. Những tổ chức này đã góp phần vào việc bảo vệ cán bộ, đảng viên, giữ vững tinh thần cho quần chúng trong hoàn cảnh bị khủng bố trắng.

+ Xây dựng lực lượng vũ trang và căn cứ địa cách mạng

Tiền thân từ đội du kích trong cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, được Đảng ta tổ chức lại thành đội Cứu quốc quân, đây là lực lượng nòng cốt để xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn – Vũ Nhai.

Sau hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng, “Trung đội đội du kích Bắc Sơn 1” đổi tên thành “Trung đội cứu quốc quân I”.

Ngày 15/09/1941, Trung đội Cứu quốc quân II được thành lập tại rừng Khuôn Máy (xã Tràng Xá, châu Vũ Nhai). Trung đội cứu quốc quân II lúc đầu có 47 chiến sĩ, chia thành 5 tiểu đội. Sau khi thành lập, Ban chỉ huy Cứu quốc quân II đã có chủ trương đẩy mạnh hoạt động theo hình thức chiên stranh du kích, phân công các đơn vị đến các địa phương đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống địch khủng bố, bảo vệ nhân dân. Mục tiêu chiến đấu của Cứu quốc quân lúc này là trừng trị những tên mật thám đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân; phá các cuộc hành quân càng quét của địch. Địa bàn hoạt động của Cứu quốc quân ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lạng Sơn.

Ở Nam Kì, sau cuộc khởi nghĩa 23/11/1940, những Đảng viên còn lại đã lãnh đạo các đội quân tiếp tục hoạt động chiến tranh du kích thực hiện diệt ác, trừ gian, tuyên truyền cách mạng.

Trên tinh thần đó, ở Bắc Trung Kì, Tỉnh uỷ Thanh Hoá đề ra chủ trương thành lập căn cứ địa cách mạng, làm cơ sở phát triển lực lượng, thúc đẩy phong trào phản đế. Tỉnh ủy chọn vùng Ngọc Trạo để xây dựng chiền khu ở vùng Đông Bắc của tỉnh. Tháng 7/1941, Ban lãnh đạo chiến khu được thành lập, Đội du kích Ngọc Trạo cũng ra đời với 21 đội viên. Cuối tháng 9/1941, Đội tăng lên 80 đội viên, ảnh hưởng và phạm vi chiến khu ngày càng lan rộng.  Thực dân Pháp đã điều lực lượng đến đàn áp. Do chênh lệch về quân số, lại thiếu kinh nghiệm và vũ khí, Đội du kích bị tổn thất lớn. Ban lãnh đạo chiến khu ra lệnh cho Đội du kích ra khỏi Ngọc Trạo phân tán về các địa phương. Cuối tháng 10 /1941, chiến khu Ngọc Trạo chấm dứt hoạt động.

 

Trong thời gian này, Đảng ta cũng đề ra chủ trương đối ngoại đúng đắn, tranh thủ sự ủng hộ từ bên ngoài, góp phần vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, ủng hộ Liên bang Xô viết, giao thiệp với chính phủ kháng chiến Trung quốc, thực hiện khẩu hiệu “Hoa – Việt kháng Nhật trên đất Đông Dương” trên nguyên tắc “bình đẳng, tương trợ” và liên hiệp có điều kiện với Anh – Mỹ để chống phát xít Nhật giành độc lập.

Với tinh thần trên, ngày 13/8/1942, Nguyễn Ái Quốc (với tên ghi trên giấy tờ tùy thân là Hồ Chí Minh) lên đường sang Trung Quốc để liên hệ với các lực lượng cách mạng ngừơi Việt Nam và Đồng minh, nhằm tranh thủ sự viện trợ từ bên ngoài.

Ngày 27/8/1942, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam 13 tháng, sau đó tướng Quốc dân Đảng là Trương Phát Khuê quyết định trả tự do cho Người. Việc làm của Trương Phát Khuê nhằm lợi dụng Nguyễn Ái Quốc và một số yếu nhân theo chủ nghĩa dân tộc ở miền Nam Trung Quốc chống phát xít Nhật.

Sau khi ra tù, Hồ Chí Minh cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp chủ động tìm cách liên hệ với quân Đồng Minh để chống phát xít Nhật. Cuối 1944, một máy bay do thám Mỹ bị quân Nhật bắn rơi trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, Trung úy phi công William Saw nhảy dù xuống Cao Bằng và được Việt Minh cứu thoát khỏi vòng vây của Nhật-Pháp. Ngày 2/11/1944, Hồ Chí Minh đã tiếp Trung úy Saw một cách thân mật và Người tìm cách đưa viên phi công về Trung Quốc cho Tập đoàn không quân số 14 Mỹ. Đầu tháng 3/1945, nhân danh lực lượng Việt Nam giải cứu cho Trung úy Saw, Hồ Chí Minh tiếp xúc với AGAS. Phía Mỹ cảm ơn và tặng người thuốc men, tiền bạc. Người không nhận tiền. Ngày 17/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Charles Fenn - Trung úy OSS (cơ quan tình báo chiến lược Mỹ). Charles Fenn đã thỏa thuận trên nguyên tắc giúp đỡ Việt Minh. Ngày 29/3/1945, Hồ Chí Minh gặp Trung tướng Chennault tại Côn Minh (Trung Quốc). Trung tướng cảm ơn Việt Minh và sẵn sàng giúp đỡ những gì có thể theo yêu cầu. Còn Hồ Chí Minh Người khẳng định quan điểm của Việt Minh là ủng hộ và đứng về phía Đồng Minh chống phát xít Nhật. Cuộc gặp diễn ra trong không khí tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, những quan điểm lớn đầu tiên giữa Việt Nam và Mỹ được thống nhất [30, tr.243].

Sau khi Bác về nước, Người vẫn giữ mối liên lạc với các cơ quan quân sự Mỹ. Tháng 6/1945, phía Mỹ, thông qua Thiếu tá A.Patty yêu cầu phía Việt Minh chuẩn bị một sân bay cho máy bay cỡ nhỏ có thể lên, xuống được, và Mỹ sẽ cho một đội sĩ quan, do một sĩ quan cao cấp sẽ nhảy dù xuống Tuyên Quang. Đồng chí Võ Nguyên Giáp được Bác giao nhiệm vụ chuẩn bị địa điểm làm sân bay. Sân bay được đặt tại hai xã Lũng Cò và xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. “Ngày 17/7/1945 đội “Con Nai” gồm 5 người do Thiếu tá Mỹ E.Tômat phụ trách nhảy dù xuống Tân Trào”, làm nhiệm vụ hoạt động huấn luyện cho khoảng 2000 bộ đội ta. Cho đến khi cách mạng tháng Tám thành công, người “bạn” ngoại quốc đầu tiên có mặt bên cạnh Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà cũng chính là Hoa Kỳ…Thế nhưng, vì nhiều lí do khác nhau OSS không những đã bỏ lỡ cơ hội thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với Việt Nam mà còn đưa đến một kết cục bi thảm: Việt Nam và Mỹ từ chỗ cùng là đồng minh trong cuộc chiến chống phát xít Nhật ở châu Á dần dần đã trở thành kẻ thù “không đội trời chung” trong cuộc chiến ở Đông Dương và Việt Nam về sau này.

Có thể nói, quan hệ Việt – Mỹ được hình thành từ cuộc chiến chống phát xít Nhật. Trên tinh thần hiểu biết, cần nhau trong cuộc chiến nên Hồ Chí Minh và Việt Minh luôn mong muốn có sự ủng hộ giúp đỡ về mọi mặt của Mỹ, Đồng Minh; ngược lại Mỹ cùng Đồng minh lại hết sức mong muốn có một chỗ đứng ở Đông Dương – vị trí chiến lược quan trọng ở châu Á - Thái bình dương trong cuộc chiến tiêu diệt chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản.


TS. Phạm Văn Lực

Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc

TỪ NGÀY QUỐC TẾ HIÊN CHƯƠNG ĐẾN NGÀY 20.11

Giáo dục là sự nghiệp quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại. Chính vì vậy mà nghề dạy học và các thầy giáo, cô giáo được xã hội hết sức quan tâm, tôn vinh và coi trọng. Trên thế giới, ngay từ năm 1946 tổ chức quốc tế của các nhà giáo tiến bộ với tên gọi “Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục” đã được thành lập.

Năm 1957, Hội nghị Quốc tế các nhà giáo đã quyết định lấy ngày 20/11 là ngày Quốc tế hiến chương các nhà giáo. Tại Việt Nam, ngày 28/9/1982 Hội đồng Bộ trưởng đã ra Quyết định số 167/HĐBT chính thức lấy ngày 20/11 làm Ngày nhà giáo Việt Nam. Nội dung quyết định có những điều khoản sau:

Điều 1: Từ nay hàng nǎm sẽ lấy ngày 20-11 là ngày nhà giáo Việt Nam

Điều 2: Để ngày 20-11 có ý nghĩa thiết thực hàng nǎm từ tháng 10 các cấp chính quyền và toàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương mình, kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những việc cấp tiếp tục làm nhằm động viên đội ngũ giáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và nǎng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Về phía giáo viên, cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận thức về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên trong xã hội nước ta ngày nay, từ đó mà ra sức phấn đấu làm tốt nhiệm vụ cao cả của mình.

Điều 3: Việc tổ chức ngày 20-11 hàng nǎm do Uỷ ban Nhân dân và Hội đồng các cấp chủ trì, có sự phối hợp các ngành giáo dục và các đoàn thể nhân dân. Các cấp các ngành cần phân công cán bộ lãnh đạo đi thǎm hỏi giáo viên, tổ chức các cuộc gặp mặt thân mật với giáo viên, nhân dịp này có thể tổ chức khen thưởng các giáo viên có thành tích.

Việc tổ chức này nhà giáo Việt Nam cần được tiến hành trọng thể và thiết thực, tránh hình thức phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹ học sinh.

Điều 4: Trong ngày 20-11 các trường có thể sắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo viên được nghỉ và thǎm gia các sinh hoạt của trường và địa phương.

Đó là Quyết định mang tính nhân văn sâu sắc và thực sự quan trọng thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò của nhà giáo trong sự nghiệp đào tạo lớp người mới xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó đến nay, ngày 20/11 hàng năm đã thực sự trở thành ngày hội truyền thống của toàn dân và được tổ chức kỷ niệm trọng thể ở khắp các địa phương trong cả nước, nhằm tôn vinh các nhà giáo, tôn vinh sự học và ngành giáo dục nước nhà.

Dân tộc ta vốn có truyền thống hiếu học, nghề thầy giáo được tôn vinh là một nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý; ông cha ta đã có câu: “Mồng một tết cha - Mồng hai tết mẹ - Mồng ba tết thầy”… Nghề thầy giáo đã rất được xã hội kính trọng và tôn vinh.

Từ xưa đến nay tôn sư trọng đạo đã trở thành vẻ đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam; lịch sử nước ta có không ít những những bậc thầy mẫu mực, uyên thâm, hiểu sâu, biết rộng như: Chu Văn An – được coi là “bậc thầy” của thiên hạ; Nguyễn Trãi – không chỉ được coi là linh hồn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, danh thần của nhà Lê mà ông còn được thế giới tôn vinh là “Danh nhân văn hóa thế giới”; Nguyễn Du – nghiệp dạy học và sự nghiệp thơ văn của ông “ăn mòn” cả thời gian và trở thành vốn trí tuệ của dân tộc và nhân loại; Nguyễn Bỉnh Khiêm – tường tận sự đời, đoán trước được thời thế - trở thành Trạng Trình của nước Việt; Hình ảnh thầy Nguyễn Tất Thành ôm ấp hoài bão ước mơ “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi đó là tất cả những gì tôi muốn, tất cả những gì tôi cần” đã thúc dục Người bước chân ra đi tìm con đường cứu nước giải phóng dân tộc và Người đã tìm ra con đường cứu nước giải phóng dân tộc...

Lịch sử nước nhà cũng có không ít những thế hệ học trò vừa siêng năng đạo học, lại nhất mực cung kính với thày “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (một chữ cũng là thày, nửa chữ cũng là thày). Một trong số những tấm gương tiêu biểu đó là:

+ Lê Văn Thịnh - người học trò nghèo vùng Gia Lương, Hà Bắc, nổi tiếng thông minh, ham học, ông đã đọc không dưới 1 vạn cuốn sách, uyên thâm các lĩnh vực, thực có tiếng là học sâu, biết rộng hiếm ai sánh bằng. Ông đã đỗ đầu Kỳ thi năm 1075 do nhà Lý tổ chức tại Văn Miếu và làm đến quan Tư đồ ở Quốc Tử giám, sau đó được thăng đến chức Thái sư trong triều. Tuy đỗ đạt thành tài làm đến chức Thái sư nhưng khi về thăm thày học ông vẫn nhất mực cung kính khoanh tay, quỳ gối xưng con với thày.

+ Lê Quát một danh thần của nhà Trần, là học trò của Chu Văn An – người thày có một trình độ học vấn uyên thâm, được mệnh danh là “Bậc thày của thiên hạ”. Sau khi đỗ đạt thành tài, Lê Quát đã làm quan ở Viện Hàn lâm, năm 1359 ông được thăng chức Phụng chỉ. Làm việc giỏi, nhanh nhẹn,  lại thanh liêm nên ông được thăng chức rất nhanh làm đến chức Nhập nội Hành khiển, Thượng thư Hữu bật, rồi làm đến chức Hữu bộc xạ… Tuy đã trở thành quan đại thần trong triều, bận trăm công nghìn việc… nhưng năm nào ông cũng về thăm thày học và bao giờ cũng vậy đều cung kính quỳ gối, khoanh tay và vẫn xưng con với thày.

+ Phạm Sư Mạnh đồng môn của Lê Quát và cũng là học trò của cụ Chu Văn An. Thuở còn đi học, Phạm Sư Mạnh nổi tiếng là thông minh, có trí nhớ lâu bền, tính cách lại siêng năng, khiêm tốn, lễ độ nên rất được mọi người quí mến. Phạm Sư Mạnh đã đỗ Thái học sinh và được làm quan ở Sảnh, Viện. Sau khi đi sứ nhà Nguyên trở về  ông được thăng chức Tham Chính khu Mật viện, sau đó lại làm đến chức Nhập nội Hành khiển tri khu Mật viện sự, rồi làm đến chức Hành khiển tả ty lang trung… Tuy công việc bộn bề nhưng năm nào ông cũng về thăm thày học và bao giờ cũng nhất mực cung kính quỳ gối, xưng con với thà và nhiều những tấm gương tiêu biểu khác…

 

Trong thời kỳ hội nhập của đất nước ta hôm nay, cùng với sự hưng thịnh của đất nước, sự học đã trở thành nhu cầu bức thiết của mỗi người, mỗi nhà, nghề dạy học luôn  được cả xã hội “Tôn vinh”. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minhi: “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh. Đây là một điều rất vẻ vang”. Người cũng đã dạy chúng ta “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Ngày nay, Đảng ta coi giáo dục là “Quốc sách hàng đầu” và đội ngũ các thầy cô giáo - Nhân tố quyết định tới chất lượng và sự phát triển của giáo dục nước nhà đã được xã hội ta hết sức quan tâm.

Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, công ơn của thày, cô, lớp lớp thế hệ học trò Việt Nam hôm nay vượt qua mọi khó khăn gian khổ, siêng năng học tập và đã giành được Huy chương vàng trong các kỳ thi Toán, Vật lí, Tin học quốc tế… làm rạng rỡ truyền thống “Học không biết mỏi, dạy không biết chán” của dân tộc…

Thế nhưng, bên cạnh truyền thống tốt đẹp trên, trong xã hội ta hôm nay vẫn có những quan niệm không đúng về nghề dạy học và trong ngành giáo dục của chúng ta hôm nay cũng không phải không có những người “thày không ra thày” và đau lòng hơn là vẫn có tình trạng học sinh chửi, đánh thày, cô giáo ở ngay trên bục giảng…Tất cả những chuyện dau lòng đó đã làm hoen ố truyền thống tốt đẹp tôn sư trọng đạo của dân tộc của dân tộc. Vì thế để giữ gìn truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, Giáo sư Trần Quốc Vượng có nói : “Các nhà giáo dục vẫn cần phải được giáo dục”.

BÀI BÁO SƠN LA LÀM THEO LỜI BÁC

Sơn La – Tây Bắc một phần của lãnh thổ Việt Nam, một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam; đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Khu tự trị Thái –Mèo là bộ phận khăng khít trong đại gia đình Việt Nam, cùng với dân tộc anh em khác đoàn kết thành một khối như ruột thịt. Nó sẽ luôn được sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng và Chính phủ,và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em khác” [1, tr.61].

Xem thêm: BÀI BÁO SƠN LA LÀM THEO LỜI BÁC

DỰ ÁN TBU - JICA TỔ CHỨC HỘI NGHỊ SƠ KẾT 6 THÁNG ĐẦU NĂM, TRIỂN KHAI CÁC HOẠT ĐỘNG 6 THÁNG CUỐI NĂM 2013

Sáng ngày 19/07/2013 tại Phòng họp 2, Trường Đại học Tây Bắc đã diễn ra Hội nghị sơ kết hoạt động Dự án TBU-JICA 6 tháng đầu năm 2013 và thảo luận về kế hoạch cho 6 tháng cuối năm 2013.

Chủ trì Hội nghị có Giáo sư Yoshihiko Nishimura – Cố vấn trưởng Dự án và TS. Đoàn Đức Lân – Phó hiệu trưởng, kiêm Giám đốc Dự án. Tham dự Hội nghị có Ông Hideo Ito – Điều phối viên Dự án phía Nhật Bản, Đại diện Phòng KH, CN và HTQT, Phòng Đào tạo Đại học, các thành viên Ban Quản lý Dự án và toàn thể giảng viên, cán bộ Khoa Nông Lâm.

Phát biểu khai mạc, TS. Đoàn Đức Lân đã nhấn mạnh: Các báo cáo, Hội nghị cần tập trung vào các đầu công việc đã thực hiện, phân tích nguyên nhân thành công, các hạn chế và thảo luận để tìm ra giải pháp.Tại Hội nghị, Ths. Hoàng Văn Thảnh – Điều phối viên Dự án đã trình bày báo cáo tóm tắt kết quả hoạt động 6 tháng đầu năm, các nội dung trọng tâm tập trung vào kết quả hoạt động của 3 nhóm: Nhóm nghiên cứu, nhóm Giáo dục và nhóm Chuyển giao. Nhóm Giáo dục đã đạt được một số kết quả như: Tiến hành dự giờ 20 giảng viên Khoa Nông – Lâm; cử các giảng viên làm việc với chuyên gia tư vấn của Trường Đại học Nông nghiệp và Đại học Lâm nghiệp về sửa đổi chương trình đào tạo; tổ chức hội thảo chia sẻ kinh nghiệm phát triển chương trình đào tạo; tổng hợp ý kiến phản hồi từ người học và chia sẻ trong hội thảo báo cáo kết quả dự giờ. Trong 6 tháng đầu năm, 11 nhóm nghiên cứu đã tiến hành triển khai các hoạt động với sự hỗ trợ của các chuyên gia trong nước (5 nhóm nghiên cứu: Nhóm Đào, Nhóm Mắc Khén, Nhóm Rau Sắng, Nhóm Lúa và Nhóm Nấm) và chuyên gia Nhật Bản (3 nhóm nghiên cứu: Nhóm Củ Mài, Nhóm Cỏ và Nhóm Gà địa phương). Giáo sư Cố vấn trưởng Dự án đã làm việc với từng nhóm nghiên cứu để thảo luận về các kế quả đạt được và các công việc cần tiếp tục thực hiện. Bên cạnh đó, hoạt động mua sắm các trang thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ nghiên cứu từ nguồn vốn ODA cũng đang được tiến hành để hỗ trợ các nghiên cứu đảm bảo tiến độ. Nhóm chuyển giao cũng đạt được một số kết quả đáng nghi nhận như: Cập nhật 34 bài viết về các hoạt động của Dự án trên website của Khoa và của Trường, hoàn thành phiếu khảo sát các nông hộ, thống kê các trang thiết bị cần xây dựng tài liệu hướng dẫn sử dựng, lập kế hoạch xây dựng tài liệu hướng dẫn sử dụng trang thiết bị thực hành thí nghiệm lâm nghiệp, đã có 6 nhóm nghiên cứu có những hoạt động chuyển giao tới các hộ nông dân (Nhóm Mắc Khén, Nhóm Củ Mài, Nhóm Đào, Nhóm Gà và Nhóm cây thức ăn).Ths. Nguyễn Văn Khoa – Trưởng nhóm Giáo dục đã trình kế hoạch triển khai các hoạt động 6 tháng cuối năm 2013 và đề xuất các giải pháp. Trong kế hoạch có nêu rõ 4 nội dung chính của kế hoạch là: Hoạt động cải thiện phương pháp giảng dạy; tăng cường sử dụng công cụ trực quan; tăng cường hoạt động dự giờ và thảo luận rút kinh nghiệm; sử đổi, làm mới chương trình đào tạo, tài liệu giảng dạy. Trong kế hoạch cũng nêu rõ 3 kiến nghị chính là: Cần có tinh thần hợp tác của toàn Khoa Nông – Lâm với hoạt động của nhóm giáo dục; tăng cường nguồn kinh phí đối ứng cho các hoạt động của nhóm giáo dục; tăng thêm nội dung hoạt động viết giáo trình và bài giảng điện tử, nên chia việc viết bài giảng điện tử thành nhiều cấp độ để phù hợp với nhiều nhóm đối tượng. Ths. Hoàng Văn Thảnh – Điều phối viên Dự án trình bày kế hoạch, trong 6 tháng cuối năm 11 nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục triển khai các hoạt động đảm bảo tiến độ, nhóm Đa dạng sinh học sẽ có 2 chuyên gia tư vấn trong nước hỗ trợ, 5 giảng viên Khoa Nông – Lâm sẽ tham gia tập huấn tại Nhật Bản. Các hội thảo, hội nghị chuyên đề sẽ được tổ chức thường xuyên, tiến hành hoạt động giám sát các nghiên cứu. Ths. Đào Nhân Lợi – Trưởng nhóm Chuyển giao trình bày kế hoạch sẽ triển khai trong 6 tháng cuối năm. Trong kế hoạch có nêu rõ một số nhiệm vụ trọng tâm như : Thu thập số liệu phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn; cập nhật website; xây dựng bản tin Dự án; đẩy nhanh hoạt động xây dựng nhà lưới nhà kính; mua sắm các trang thiết bị nghiên cứu đã đề xuất và xây dựng tài liệu hướng dẫn sử dụng. Phát biểu tại Hội nghị sau khi nghe các báo cáo và kế hoạch được trình bày, Giáo sư Nishimura – Cố vấn trưởng Dự án đã có một số thông báo và tham góp cho các kế hoạch. Giáo sư nhấn mạnh tới 2 hoạt động quan trọng sắp triển khai đó là cuộc họp đánh giá kết thúc Dự án diễn ra vào ngày 7/8/2013 và cuộc họp Ban điều phối hỗn hợp (JCC) vào ngày 9/8/2013. Vì vậy, trong thời gian sắp tới sẽ có các chuyên gia phía Nhật Bản lên làm việc tại Trường Đại học Tây Bắc từ ngày 30/7 – 8/7/2013 để phục vụ hoạt động đánh giá Dự án. Hoạt động đánh giá sẽ xem xét tới khía cạnh mức độ ảnh hưởng của các kết quả của Dự án tới sự phát triển của Tây Bắc, Giáo sư cũng nhấn mạnh mặc dù trong 3 năm thì khó có thể đạt được kết quả này nhưng cần xem xét các hoạt động có đi đúng hưởng mục tiêu không. Đối với hoạt động của 3 nhóm nghiên cứu, Giáo sư cũng có một số ý kiến cụ thể để góp ý cho các hoạt động tiếp theo. Đối với nhóm Giáo dục, việc chỉnh sửa chương trình khung là rất quan trọng, chương trình chi tiết có thể đề nghị chỉnh sửa vào năm sau, cần tập trung vào chất lượng các tài liệu giảng dạy. Đối với nhóm nghiên cứu, việc các kết quả nghiên cứu được chuyển thành các báo cáo khoa học được công bố là rất quan trọng, cần thiết lập hệ thống quản lý nghiên cứu thực địa, việc viết các báo cáo kết quả tập huấn cần được quan tâm hơn nữa. Nhóm chuyển giao cần xây dựng kế hoạch tổng thể việc xây dựng nhà lưới, nhà kính, vườn sưu tầm thực vật, tính bền vững của các hệ thống này là một điểm mà chúng ta cần chú ý. Kết thúc Hội nghị, TS. Đoàn Đức Lân – thay mặt đoàn chủ tọa đã phát biểu tổng kết một số vấn đề mang tính trọng tâm như sau: a. Kết luận chung - Hội nghị đã được nghe báo cáo của các nhóm và các ý kiến thảo luận, trong đó có ý kiến của GS Cố vấn trưởng dự án về việc đánh giá dự án cuối kỳ và ý kiến cụ thể cho từng nhóm (nghiên cứu, giáo dục, chuyển giao kỹ thuật). Các nhóm cần lưu ý ý kiến của Giáo sư Cố vấn trưởng Dự án. - Tích cực chuẩn bị cho hoạt động đánh giá cuối kỳ của Dự án theo kế hoạch đã ban hành. - Các nhóm xây dựng kế hoạch cụ thể: hoạt động, thời gian, kết quả, kinh phí, tổ chức thực hiện...cho toàn bộ thời gian còn lại của Dự án. - BQL dự án sẽ điều chỉnh kinh phí cho hợp lý. - Từng cá nhân cần nhiệt tình, hình thành thói quen, tác phong làm việc khoa học chuyên nghiệp (đặc biệt là kỹ năng quản lý thời gian). Cần có sự đoàn kết thực sự, phối hợp hiệu quả trong công việc. - BQL dự án và lãnh đạo Khoa Nông Lâm, các bộ môn tiếp tục duy trì, phát triển môi trường phù hợp cho giảng viên cán bộ phát triển chuyên môn, nghề nghiệp. b. Kết luận cho từng nhóm * Nhóm Nghiên cứu - Các nhóm nghiên cứu, các cá nhân nộp các hình ảnh, tiêu bản, mẫu vật... vào trước ngày 31/07/2013 cho Văn phòng Dự án (bà Giang, Trợ lý Dự án). Đây được xem là tiêu chí đánh giá việc kéo dài hoạt động của nhóm. - Xây dựng nhà lưới, nhà kính: PMU xem xét vị trí đặt nhà kính, nhà lưới tại Trung tâm NCTN nông lâm (Thuận Châu), chú ý công tác bảo vệ. - Các nhóm đã làm việc với chuyên gia Nhật Bản và chuyên gia trong nước, tham dự hội thảo, tập huấn viết báo cáo chi tiết nộp lại cho BQL Dự án vào ngày 31/07/2013. * Nhóm Giáo dục - Tuần tới BQL Dự án họp về việc phân bổ sử dụng 10 máy tính xách tay. - Việc mời chuyên gia lên hướng dẫn sử dụng các thiết bị phục vụ giảng dạy, nghiên cứu là cần thiết. - Về công cụ trực quan: Các giảng viên cần nộp các công cụ trực quan cho BQL dự án (bà Giang – Trợ lý Dự án) chậm nhất 31/7/2013. Việc nộp công cụ trực quan được xem là tiêu chí đánh giá việc kéo dài hoạt động của nhóm. - Dự giờ phải có cả giảng viên mới và những giảng viên có kinh nghiệm, nhưng nên xây dựng phiếu đánh giá chung cho toàn Khoa. * Nhóm Chuyển giao - Tích cực viết bài cho website về các hoạt động của Dự án. Ông Đào Hữu Bính làm thông báo về việc viết bài cho website. - Nhà trường hỗ trợ kinh phí 2.000.000 đồng để cải tạo website Khoa Nông - Lâm. Website cần làm thư mục liên kết đến các trường ĐH, tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, các Sở KH, Sở NN, các cơ quan liên quan. - Các bài viết trên website dự án và website trường hiện nay chủ yếu dừng lại ở dạng tin tức thông báo, cần có nhiều bài viết chuyên ngành, báo cáo khoa học. * Đào tạo, tập huấn - Các giảng viên, cán bộ cần tích cực chuẩn bị tham dự các Chương trình tập huấn tại nước ngoài trong thời gian tới. - Tiếp tục đề xuất chương trình tập huấn tại Philipin.

"NHẬT KÝ TRONG TÙ" - MỘT VĂN KIỆN LỊCH SỬ VÔ GIÁ

“Nhật ký trong tù” ngoài giá trị về tư tưởng, triết học, văn học... còn là văn kiện lịch sử vô giá. Nhân kỷ niệm 70 mươi năm ra đời của Tác phẩm tôi xin làm rõ thêm vấn đề này như sau:

Xem thêm: "NHẬT KÝ TRONG TÙ" - MỘT VĂN KIỆN LỊCH SỬ VÔ GIÁ