CHẾ ĐỘ VUA LÊ - CHÚA TRỊNH, MỘT THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ ĐẶC BIỆT

Tóm tắt:

 Bài viết đề cập đếnquá trình hình thành, đặc trưng của chế độ Vua Lê – Chúa Trịnh và lý giải vì sao Chúa Trịnh lại không cướp ngôi của nhà Lê ?

 1. Mở đầu

 Chuyên chế trung ương tập quyền (mọi quyền hành tập trung vào tay người đứng đầu nhà nước – ông vua chuyên chế) là đặc điểm thể chế chính trị của các quốc gia phong kiến phương Đông; thế nhưng, ở Việt Nam thời kỳ từ 1545 đến 1786 lại tồn tại một thể chế chính trị đặc biệt: Vua Lê - Chúa Trịnh.

 Vậy, thể chế chính trị đó được hình thành như thế nào ? có đặc trưng gì  ?  Tại sao Chúa Trịnh không cướp ngôi vua Lê giống như Mạc Đăng Dung năm 1527 ?  Trong phạm vi của bài viết, tôi xin đề cập đến vấn đề này như sau:

 

2. Sự hình thành và đặc trưng của thể chế chính trị: Vua Lê – Chúa Trịnh (1545-1786)

 

2.1. Sự hình thành

 

Năm 1527, Mạc Đăng Dung ép Lê Cung Hoàng nhường ngôi vua cho mình - nhà Mạc thành hình.Năm 1530, Mạc Đăng Dung nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh, còn mình tự xưng là Thượng hoàng sống ở Cổ Trai (Dương Kinh).

 

Năm 1530, Lê Ý ở Thanh Hóa nổi quân chống lại nhà Mạc. Năm 1532, Nguyễn Kim được sự giúp đỡ của vua Ai Lao, tập hợp lực lượng ngày đêm luyện tập và tôn con của Lê Chiêu Tông tên là Ninh lên làm vua (Lê Trang Tông), đóng đô ở Thanh Hóa, nhiều quan lại  cũ của nhà Lê cũng theo về phò tá tạo nên một triều đình mới đối lập với nhà Mạc ở phía Bắc. Đại Việt lúc đó có hai triều đình, lịch sử gọi đó là thời kỳ Nam – Bắc Triều.

 

Người mở đầu sự nghiệp của họ Trịnh là Trịnh Kiểm, người huyện Vĩnh LộcThanh Hóa. Nghe tin Nguyễn Kim nổi dậy dựng lại nhà Lê, Trịnh Kiểm tìm đến xin gia nhập nghĩa quân. Nhờ tài năng, ông được Nguyễn Kim tin cậy và gả con gái là Ngọc Bảo cho. Nǎm 1539 ông được phong làm Đại tướng quân, tước Dực quận công. Năm 1545, Nguyễn Kim bị một hàng tướng nhà Mạc đầu độc chết, vua Lê phong con rể của Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay. Vừa được phong chức, Trịnh Kiểm tìm mọi cách loại trừ phe cánh của Nguyễn Kim (bố vợ) để tập trung quyền lực vào tay mình. Trịnh Kiểm đã sát hại người con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, người con trai thứ hai là Nguyễn Hoàng lo sợ phải nhờ chị gái mình là Ngọc Bảo (vợ của Trịnh Kiểm) xin cho vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa (Huế); Trịnh Kiểm thuận ý cho vào. Họ Nguyễn vào  đó ngấm ngầm lập “vương quốc” riêng của mình chống lại họ Trịnh, nhưng bề ngoài vẫn tỏ vẻ thuần phục, giúp họ Trịnh chống họ Mạc. Để tạo cơ sở thực lực chống lại họ Trịnh, các chúa Nguyễn đã đẩy mạnh khai khẩn vùng đất Đàng trong mở rộng lãnh thổ đến tận vùng Hà Tiên, An Giang.

 

Từ khi Trịnh Kiểm nắm quyền, họ Trịnh cai quản vùng phía Nam của Đại Việt (trên danh nghĩa vẫn là dưới quyền vua Lê) và chiến đấu với nhà Mạc ở phía Bắc. Bấy giờ nhà Lê chiếm lại được Thanh Hóa và Nghệ An. Nhờ có khẩu hiệu “Phù Lê diệt Mạc” (giúp Lê diệt Mạc), thanh thế họ Trịnh ngày một lớn. Ở vùng Tây Bắc, anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên cát cứ tại Tuyên Quang sai người đến xin quy phục. Sau đó năm 1550, có Lê Bá Ly là cựu thần nhà Lê sơ cùng thông gia là Nguyễn Thiến cũng mang gia quyến về hàng.

 

Từ khi cướp ngôi nhà Lê (1527), triều Mạc ra sức củng cố mọi mặt để chống lại tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh ở Thanh Hóa. Đến thời Mạc Mậu Hợp (1562-1592) – qua các Niên hiệu: Thuần Phúc (1562-1565); Sùng Khang (1566-1577); Diên Thành (1578-1585); Ðoan Thái (1586-1587); Hưng Trị (1590); Hồng Ninh (1591-1592). Mạc Mậu Hợp sinh năm Nhâm Tuất (1562). Khi lên ngôi mới 2 tuổi phải lấy ứng vương Mạc Ðôn Nhượng (con trai Mạc Ðăng Doanh) làm phụ chính. Năm ấy (1562), họ Mạc ngờ Thái bảo Văn Quốc công Phạm Dao có lòng khác bèn giết đi.

 

Vào thời điểm này, ở phía Nam triều, Trịnh Kiểm đã chết (1570), binh quyền vào tay Trịnh Tùng “Vua Lê và Trịnh Tùng sống với nhau khá hoà thuận, chính sự được chỉnh đốn, quân sĩ tinh tráng, khoẻ mạnh, khí thế đang lên”. Còn phía Bắc triều, sau khi vào Ðông Kinh, Mạc Mậu Hợp ham chơi bời, say đắm tửu sắc, không để ý gì đến việc nước. Rất nhiều sớ của các quan khuyên răn Mạc Mậu Hợp nhưng vô hiệu.

 

Giữa lúc đó quân đội Lê - Trịnh tấn công liên tiếp vào hậu cứ quân Mạc có lúc đã phải huy động lực lượng chống trả đến 10 vạn quân, nhưng nhà Mạc vẫn thua trận. Mạc Hậu Hợp lại bỏ kinh thành Thăng Long sang bến Bồ Ðề, chia quân giữ phía Bắc sông Cái để tự vệ.

 

Khốn đốn là vậy mà Mạc Mậu Hợp vẫn lao vào ăn chơi trác táng. Thấy Nguyễn Thị Niên, con gái của Nguyễn Quyện, vợ trấn thủ Nam Ðạo Sơn quận công Bùi Văn Khuê, em gái hoàng hậu xinh đẹp, Mậu Hợp đem lòng yêu mến, bèn ngấm ngầm tính kế giết Bùi Văn Khuê một tướng tài thống lĩnh toàn bộ lực lượng thuỷ quân của Mạc để cướp vợ Khuê. Biết âm mưu ấy, vợ Văn Khuê mật báo cho chồng. Văn Khuê đem quân bản bộ về giữ Gia Viễn, chống lại lệnh vua Mạc. Mạc Mậu Hợp mấy lần vời không được phải cho quân tướng đến hỏi tội Văn Khuê. Văn Khuê, một mặt đem quân chống giữ, mặt khác cho con là Bùi Văn Nguyên vào hàng quân Trịnh và xin quân cứu viện. Trịnh Tùng rất mừng, thu nhận ngay và cho quân ra cứu Văn Khuê. Thế là thuỷ quân, chỗ mạnh nhất đã lọt vào tay quân Trịnh. Trịnh Tùng được Văn Khuê giúp nên thế thắng đã ở trong tay.

 

Ngày 25 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1592), thuỷ quân Trịnh gồm 300 chiếc thuyền đánh vào huyện Kim Thành, Mạc Mậu Hợp bỏ chạy, quân Trịnh thu được rất nhiều vàng bạc, của cải, đồ dùng và con gái, bắt Thái hậu nhà Mạc giải về Thăng Long. Tới sông Bồ Ðề, Thái hậu nhà Mạc nhảy xuống sông tự vẫn. Mạc Mậu Hợp sợ đến nỗi phải trao hết quyền bính cho con trai là Toàn lên làm vua còn mình thì chạy trốn.

 

Mạc Mậu Hợp chạy trốn tại một ngôi chùa ở huyện Phượng Nhãn (Bắc Ninh). Quân Trịnh sục tới, dân địa phương cho biết Mạc Mậu Hợp đóng giả sư ông, đến ẩn ở chùa Mô Khê đã 11 ngày. Quân Trịnh đến chùa thấy Mậu Hợp nghiễm nhiên ngồi xếp bằng, đang tụng kinh.

 

Quân Trịnh dùng voi chở Mạc Mậu Hợp và hai kỹ nữ, giải về kinh sư. Sau đó, Mậu Hợp được cho sống ba ngày, xong chém đầu ở bãi cát Bồ Ðề, thủ cấp hiến hoàng đế nhà Lê ở  Vạn Lại (Thanh Hoá) và bị đóng đinh đem bêu ngoài chợ.

 

Mạc Mậu Hợp lên ngôi lúc 2 tuổi, ở ngôi 29 năm, khi chết 31 tuổi. Con trai Mạc Mậu Hợp là Toàn, được Mậu Hợp nhường ngôi, tự xưng là Vũ An, nhưng không được nhân tâm ủng hộ, thế cô, ngầm trốn cũng bị quân Trịnh bắt được đem chém đầu tại bến Thảo Tân.

 

Như vậy họ Mạc từ Ðăng Dung đến Mậu Hợp, truyền ngôi được năm đời thì mất, tổng cộng được 66 năm. Sau đó con cháu nhà Mạc rút lên Cao Bằng, đến 1667 những dư đảng cuối cùng của nhà Mạc mới bị triều đình Lê - Trịnh dẹp yên [2, tr.345].

 

Như vậy, sau khi Trịnh Tùng đem quân đánh bại nhà Mạc ở Thăng Long (1592) thống nhất Bắc hà, triều Lê được khôi phục, vua Lê bấy giờ là Lê Thế Tông. Tuy nhiên, cậy có công dẹp nhà Mạc khôi phục triều Lê, Trịnh Tùng lộng hành “năm 1599 ông buộc vua Lê phải phong mình làm Đô nguyên súy, Tổng quốc chính, Thượng phụ bình an vương. Từ đây ông nắm mọi quyền hành trong nước, định ra luật lệ, sắp đặt Thế tử của triều Lê và được người đương thời gọi là Chúa. Năm 1600 cho lập Phủ đình (Vương phủ) bên cạnh triều đình vua Lê, đặt thêm 2 chức Tham tụng, Bối tụng cùng Chúa bàn việc nước, lại đặt các chức võ quan cao cấp cùng chỉ đạo chung. Quyền lực nằm cả trong tay họ Trịnh; chế độ Vua Lê – Chúa Trịnh hình thành từ đó” [3, tr.494].

 

2.2. Đặc trưng cơ bản

 

Trong lịch sử dân tộc, lần đầu tiên xuất hiện tình trạng bên cạnh ngai vàng của nhà vua lại có phủ chúa, lịch sử gọi là thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh (1545 – 1786) – một thể chế chính trị đặc biệt, với đặc trưng cơ bản sau:

 

+ Thứ nhất, chế độ Vua Lê – Chúa Trịnh không phải là sự chia đôi quyền lực giữa Vua Lê với Chúa Trịnh theo công thức cân bằng nhau 50/50; lại càng không phải là một sự “mặc cả” giữa Vua Lê với Chúa Trịnh trong những lúc gian truân bị nhà Mạc lật đổ; nhưng trên thực tế từ 1545 đến 1786 họ Trịnh đã nắm toàn bộ quyền lực trong triều và thay mặt nhà vua điều hành đất nước. Bằng chứng trong thời kỳ này Chúa Trịnh đã nhiều lần “mượn danh” Vua Lê mang quân đi tiễu phạt nhà Mạc (đến năm 1592 dẹp được) và cũng đã nhiều lần mang đại binh vào đánh các chúa Nguyễn ở Đàng trong nhưng không thành. Cho đến khi đất nước bị chia cắt thành Đàng trong và Đàng ngoài (1672) thì thực chất cũng là sự phân chia quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh (ở Đàng ngoài), Nguyễn (ở Đàng trong) chứ không phải giữa Vua Lê với các Chúa Nguyễn, cho nên sự tồn tại của Vua Lê trong thực  thể chính trị này thực chất chỉ là “cái bóng”.

 

+ Thứ hai, thể chế Vua Lê – Chúa Trịnh tồn tại được trong suốt thời kỳ từ 1545 đến 1786 là dựa vào tài năng của các Chúa Trịnh chứ không phải của Vua Lê. Sự khôn khéo và tài năng của Chúa Trịnh được thể hiện ở chỗ: Chúa Trịnh rất am hiểu thời cuộc và đối thủ của mình (kể cả Vua Lê mặc dù tàn tệ như thế nhưng không phải không có ý định muốn giành lại quyền lực đã bị tuột mất) từ đó để có cách ứng phó hài hòa với các bên. Đặc biệt, để có thể trụ được trước những đối thủ mạnh như Mạc, Nguyễn… không có cách nào khác Chúa Trịnh phải tìm cách gây dựng cơ sở thực lực, thường xuyên chỉnh đốn quân sĩ, xây dựng quân đội hùng mạnh dựa chủ yếu vào thủy binh, có chính sách mền dẻo đối với các tù trưởng miền núi, kiên quyết tiêu diệt các thế lực cát cứ, canh giữ và bảo toàn được cương vực lãnh thổ... Tất cả những việc làm đó đã giúp cho Chúa Trịnh trụ được trong thời buổi đầy sóng gió và loạn lạc.

 

+ Thứ ba, tính độc đáo của thể chế chính trị Vua Lê – Chúa Trịnh là chỉ xuất hiện một lần duy nhất trong lịch sử phong kiến dân tộc; quyền lực tuy nằm trong tay Chúa Trịnh nhưng vẫn thuộc bộ máy nhà nước trung ương, còn thời kỳ Thiên Hoàng – Mạc Phủ ở Nhật Bản (1192-1867): quyền lực của Thiên hoàng chỉ là hình thức, các lãnh chúa phong kiến ở các địa phương mới là tầng lớp nắm thực quyền.

 

3. Vì sao Chúa Trịnh lại không cướp ngôi của nhà Lê ?

 

Chúa Trịnh không cướp ngôi của Vua Lê vì một số nguyên nhân sau:

 

   - Thứ nhất, về phía Vua Lê – Chúa Trịnh.Mặc dù triều Lê từ sau triều đại Lê Thánh Tông (1460-1497) đã quá tàn tệ không còn đủ sức để khôi phục lại vị thế tập quyền của vương triều mình như trước đây nữa, trong thời buổi hỗn loạn đó triều đình Vua Lê muốn tồn tại được phải nhờ cậy vào thế lực của Chúa Trịnh; ngược lại, Chúa Trịnh muốn tiêu diệt được các đối thủ của mình cũng phải dựa vào “cái bóng” của Vua Lê… Hay nói một cách công bằng, cả hai tập đoàn phong kiến này đều phải cần đến nhau để tồn tại [2, tr.341]. Vì thế Chúa Trịnh không cướp ngôi của Vua Lê.

 

- Thứ hai, Chúa Trịnh hơn ai hết là người tinh thông thời cuộc lúc đó. Trong bối cảnh từ XVI đến XVIII ở nước ta có 4 thế lực phong kiến tham gia tranh giành quyền lực (Lê, Trịnh, Mạc, Nguyễn), trong đó có 03 thế lực cát cứ thành quốc gia riêng đó là: Bằc triều (Mạc), Nam triều (Lê - Trịnh), Đàng trong (Nguyễn); từ sau 1592: Mạc ở Cao Bằng, Lê – Trịnh ở Đàng ngoài, Nguyễn ở Đàng trong; từ năm 1668 chỉ còn hai thế lực: Lê – Trịnh ở Đàng ngoài, Nguyễn ở Đàng trong; thế nhưng, theo quan điểm của phong kiến thời điểm đó dù có 4, 3 hoặc 2 thế lực phong kiến cùng tồn tại thì chỉ có Vua Lê là “chính danh” thực quyền và đã được “Thiên triều” Trung Quốc ban sắc phong. Về mặt này, Chúa Trịnh là người tinh thông thời cuộc nghe theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Giữ chùa thì ăn oản”; nếu cướp ngôi của Vua Lê, Chúa Trịnh sẽ bị phạm 2 điều cấm kỵ: thứ nhất Chúa Trịnh sẽ bị coi là “phản nghịch” (giặc), dư luận trong nước sẽ phản đối, thứ hai bị “Thiên triều” của Trung Quốc trừng phạt. Vì thế nên Chúa Trịnh không những không cướp ngôi của Vua Lê giống như Mạc Đăng Dung (1527) và cũng không “lộ mặt” chống đối nhà Lê như các tập đoàn phong kiến khác, lại càng không có mưu đồ cát cứ kiểu như tập đoàn phong kiến Nguyễn ở Đàng trong; mà Chúa Trịnh đã khôn khéo “lựa thời” từng bước lấn át, tiến tới tiếm quyền của Vua Lê, biến Vua Lê thành “cái bóng” và thực sự Vua Lê đã bị biến thành “cái bóng” từ lúc nào không biết. Tinh ranh hơn, Chúa Trịnh còn biết dùng “cái bóng” của Vua Lê để che đậy cho những toan tính riêng của mình và rất thành công.

 

- Thứ ba, trong suốt thời kỳ tham gia chính sự họ Trịnh có nhiều đối thủ:

 

+ Ở phía Bắc có hai đối thủ: Thứ nhất“Thiên triều” ở phương Bắc (phong kiến Trung Quốc) luôn dình dập chỉ chờ cơ hội là hành binh dưới danh nghĩa “Phù Lê, diệt Trịnh”, điều này các đời Chúa Trịnh luôn canh cánh bên lòng không bao giời quyên. Thứ hai, sau năm 1592 ở Cao Bằng vẫn còn tàn dư nhà Mạc, lại được nhà Minh ủng hộ luôn là mối đe dọa đối với tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh. Vì thế họ Trịnh không dám cướp ngôi nhà Lê làm thay đổi cả một triều đại.

 

         + Phía Nam là tập đoàn phong kiến Nguyễn – kẻ thù “không đội trời chung” của họ Trịnh

 

  Sau cuộc tấn công không thành năm 1620, mối mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài, Nguyễn ở Đàng trong ngày càng sâu sắc và đến lúc không thể điều hòa được nữa. Tình trạnh này làm cho không khí chính trị ở nước ta hết sức căng thẳng. Hai bên đã chuẩn bị lực lượng cho một cuộc “so đao, đấu súng” mới. Và cái gì đến đã đến, năm 1627, cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn chính thức bùng nổ, kép dài hơn một nửa thế kỷ. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, nhưng cả thảy hai bên đã dánh nhau tới 7 lần lớn, lúc quân Trịnh đánh vào, lúc họ Nguyễn đánh ra. Cuối cùng không phân thắng bại, hai bên đã lấy sông Gianh làm ranh giới chia đôi đất nước (1672) [2, tr.341] .

 

  Từ năm 1614, Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp cha (Nguyễn Hoàng) quyết định thiết lập một hệ thống chính quyền riêng, do người Đàng Trong đảm nhiệm. Chúa đứng đầu tất cả, nhưng chỉ tự xưng là quốc công, nhân dân gọi là chúa.

 

Năm 1744, chúa Phúc Khoát quyết định xưng vương và thay đổi bộ máy hành chính. Các ti ở Chính dinh được đổi thành 6 bộ. Hàn lâm viện được thành lập. Phú Xuân được dựng thành kinh đô. Các dinh đều có trấn thủ đứng đầu.

 

Quân đội có bộ binh, thủy binh, tượng binh và pháo binh. Thủy binh rất mạnh. Đại bác là một loại vũ khí được đặt ở các chiến lũy, chiến thuyền. Tất cả dân dinh từ 18-50 tuổi đều phải ghi tên vào sổ đinh để nhà nước xét duyệt lấy lính theo chế độ suốt đời.

 

Về đối ngoại: Nước Chăm Pa suy dần và hòa nhập vào lãnh thổ Đàng Trong. Chúa Nguyễn đặt quan hệ thân thiện với Chân Lạp.

 

 Có thể nói, trong khi tập đoàn phong kiến Vua Lê- Chúa Trịnh suy yếu thì chính quyền của các chúa Nguyễn ở Đàng trong lại hưng thịnh, đúng như một viên quan cao cấp của họ Trịnh đứng trên lập trường đối địch, nhưng khi đánh giá về công lao về họ Nguyễn cũng phải thừa nhận: “Đoạn quận công (Nguyễn Hoàng) có uy lực xét kĩ, nghiêm minh, không ai dám dối lừa…chính sự khoan hòa, việc gì cũng thường làm ơn cho dân, phép tắc công bằng, nghiêm giữ quân sĩ có kỉ luật, cấm chấp kẻ hung bạo. Quân dân hai xứ đều mến yêu kính phục, thay đổi phong tục xấu ai ai cũng đều cám ơn mến đức. Chợ không có hai giá, trong dân gian không có trộm cướp, đêm không đóng cổng, thuyền ngoại quốc đến buôn bán, giao dịch phân minh, ai ai cũng cố gắng, toàn cõi nhân dân an cư lạc nghiệp” [6].

 

Như vậy, qua đây cho thấy chính quyền của họ Nguyễn ở Đàng Trong (đối thủ số 1 của chúa Trịnh) rất mạnh, phát triển về mọi mặt từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội,…đã làm cho Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài luôn phải cảnh giác phòng bị. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho họ Trịnh không thể cướp ngôi nhà Lê, dẫn tới sự tồn tại của thể chế chính trị Vua Lê-Chúa Trịnh trong một thời gian rất dài từ 1545 đến 1786.

 

Kết luận

 

Thể chế chính trị Vua Lê - Chúa Trịnh không phải là một sự chia đôi quyền lực giữa Vua Lê với Chúa Trịnh mà trên thực tế tất cả quyền lực nằm trong tay Chúa Trịnh.

 

  Khi nhìn nhận đánh giá về chế độ Vua Lê - Chúa Trịnh sao cho khách quan và công bằng quả là vấn đề rất khó. Ai cũng phải thừa nhận thời kỳ này các phe phái phong kiến lục đục, hậu quả của các cuộc hỗn chiến phong kiến liên miên đã làm cho đời sống của nhân dân cùng cực điêu đứng, đất nước bị phân liệt…Song về mặt khách quan, ở một góc độ nào đó họ Trịnh vẫn có những đóng góp nhất định đối với lịch sử; Chúa Trịnh cũng có nhiều việc làm góp phần bảo vệ và tôn tạo di sản văn hóa của dân tộc, ví như thời Trịnh Giang (1729-1740) đã cho tôn tạo, xây dựng rất nhiều chùa chiền, đến mức dân chúng phải thốt lên “phí nhiều tiền của”. Hoặc như nhờ có sự tranh chấp quyết liệt giữa hai tập đoàn phong kiến Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài – Nguyễn ở Đàng trong đã trực tiếp hối thức các Chúa Nguyễn đẩy mạnh công cuộc khai phá dải đất Đàng trong vào đến tận An Giang, Hà Tiên... Nhờ vậy mà nước Đại Việt mới có được một nửa nước (miền Nam) rộng lớn như ngày nay.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Đinh Thị Dung (2001). Quan hệ Ngoại giao trong triều Nguyễn nửa đầu thế kỷ XIX, Luận án tiến sĩ, Đại học Sư phạm tp. Hồ Chí Minh.

 

2. Đinh Xuân Lâm (Chủ biên) (2001), Lịch sử Việt Nam Đại cương, NXB Giáo dục, Hà Nội.

 

3. Đinh Xuân Lâm, Trương Hữu Quýnh - Chủ biên (2000). Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXBGD, Hà Nội.

 

4. Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê (1967-1968). Đại Việt sử kí toàn thư (Tập 4) NXBKHXH.

 

5. Khâm Định Việt Sử thông Giám cương Mục, Quốc sử quán triều Nguyễn, bản điện tử, trang 294

 

         6. Launay. Histoire générale de la Société des Mission Etrangères, Paris, 1894- Dẫn lại theo Nguyễn Phan Quang, Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX, mở cửa hay đóng cửa ? Những vấn đề văn hoá xã hội thời Nguyễn, tr.31.

 

 

 

The regime of Le Dynasty – Trinh Lords (1545 – 1786) – a special political mechanism in the national history

 

 

 

                                                                    Dr. Phạm Van Luc

 

                                                     Faculty of History and Geographie, Tay Bac University

 


Abstract: The writing mentions the historic form and features of Le – Trinh Regime and the explanation of why Trinh Lords didn’t usurp the throne of Le Dynasty.

 

                                             TS. Phạm Văn Lực

 

                                                      Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc