QUÁ TRÌNH XÁC LẬP ĐƯỜNG BIÊN GIỚI TIẾP GIÁP GIỮA TÂY BẮC (VIỆT NAM) VỚI CÁC TỈNH BẮC LÀO TỪ THẾ KỶ XIV ĐẾN HIỆP ƯỚC PHÁP - THANH 1895

A. Đặt vấn đề

           Tây Bắc là cách gọi theo phương vị, chỉ vùng đất nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc lấy thủ đô Hà Nội làm chuẩn. Cho đến nay, về địa giới của Tây Bắc vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng theo chúng tôi Tây Bắc chủ yếu bao gồm các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, một phần của Hòa Bình.

Tây Bắc một phần của lãnh thổ Việt Nam, một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam, là địa bàn sinh sống lâu đời của trên 20 dân tộc anh em: Thái, Mông, Lự, Hoa, Kinh, La Ha, Khơ Mú, Kháng, Mảng, La Hủ, Mường, Tày, Nùng, Dao, Kinh, Hoa…

Trong lịch sử cũng như hiện nay, Tây Bắc cùng với Thượng Lào có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và trong quan hệ giao lưu quốc tế. Vì thế, việc làm rõ quá trình xác lập đường biên giới tiếp giáp giữa Tây Bắc (Viêt Nam) với các tỉnh bắc Lào có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay… Trong phạm vi của bài viết, tôi xin làm rõ thêm quá trình xác lập đường biên giới tiếp giáp giữa Tây Bắc (Việt Nam) với các tỉnh bắc Lào, cụ thể như sau:

B. Nội dung

1. Thực trạng vùng biên giới tiếp giáp giữa Tây Bắc (Việt Nam) với Thượng Lào trước 1353

Trong lịch sử vùng Tây Bắc (Việt Nam) và Thượng và Trung Lào không có đường biên giới mà chỉ là vùng biên giới - đây vốn là địa bàn sinh sống lâu đời của nhóm cư dân bản địa của: người Khạ (Lào) Hà Nhì, Khơ Mú, Kháng, Mảng, La ha... (Tây Bắc –Việt Nam). Từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất sau công nguyên, vùng Tây Bắc và Thượng Lào có nhiều biến động, do các nhóm Thái (thuộc nhóm tiếng Tày-Thái) từ miền Nam Trung Quốc thiên di xuống.

Dân tộcThái là nhóm cư dân có nguồn gốc từ nam Trung Quốc, gồm người Lào, Xiêm, người Sán Chay ở đông bắc Miến Điệnngười Choang ở tỉnh Quảng TâyTrung Quốc và người Thổngười Nùng ở vùng núi phía bắc Việt Nam. Đầu thiên niên kỷ I sau công nguyên, dưới áp lực bành trướng của người Hán(Trung Quốc), người Thái bắt đầu thiên di xuống vùng Đông Nam Á theo đường sông Mê Công và sông Hồng của miền Bắc Việt Nam (tiếng Thái gọi là Nặm Tao). Khi thiên di xuống phía Nam, cư dân Thái đã thế chỗ những dân tộc vốn sống ở đó từ trước (gồm cả nền văn hoá ở thời kỳ đồ sắt với những người đã tạo ra những chiếc chum đá khổng lồ thành tên cho vùng Cánh đồng Chum ở trung tâm nước Lào). Sông Mekông chảy xuyên qua nước Lào ngày nay là một con đường di cư chính, nhưng sức mạnh của Đế quốc Khơ mer (Campuchia) đã ngăn không cho người Thái chiếm vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thay vào đó, vùng định cư chính của người Thái nằm xa hơn về phía nam, ở châu thổ sông Chao Phraya, nơi họ lập nên nhiều tiểu quốc tiền thân của nước Xiêm hiện đại hay Thái Lan ngày nay.

Trong thiên niên kỷ đầu tiên sau công nguyên, cư dân Thái vẫn chỉ là những tổ chức cộng đồng lỏng lẻo, bao gồm nhiều tiểu quốc gọi là muang (mường) hay mandalas phân bố trên một địa bàn rộng lớn bao gồm toàn bộ nhà nước Miến Điện, Thái Lan, Lào và Tây Bắc (Việt Nam). Lịch sử của Lào trước thế kỷ 14gắn liền với sự thống trị của vương quốc Nam Chiếu. Mãi cho đến thế kỷ 13, lãnh thổ nước Lào hiện nay vẫn thuộc về đế chế Khơ me, rồi đến vương quốc Sukhothai.Họ bị ảnh hưởng nhiều từ những nền văn hoá văn minh ở xung quanh như: văn hoá Khơ me ở phía đông nam, các văn hoá Hindu của Ấn Độ ở phía tây.Đa số các nhóm Thái chuyển sang một hình thức tôn giáo kiểu Hindu giáo, hiện ta vẫn còn thấy những dấu vết của nó trong các tôn giáo Lào hiện nay. Giữa thế kỷ thứ 6 và thứ 9 sau công nguyên, Phật giáo bắt đầu lan tới những vùng do người nói tiếng Thái sinh sống, phần nhiều qua Miến Điện và trở thành tôn giáo chính. Nhưng Lào vẫn giữ nhiều tôn giáo duy linh từ thời tiền Phật giáo.

Khi người Thái đã củng cố được vị trí, họ lại phân chia ra thành nhiều nhóm ngôn ngữ phụ. Các ngôn ngữ đó gồm Thái-Lào, trong khoảng thế kỷ 11 và 12 sau công nguyên từng lan rộng dọc theo vùng trung Châu thổ sông Cửu Long và qua Cao nguyên Khōrāt (hiện nay là vùng Isan đông bắc Thái Lan). Con đường tiến xuống phía nam của họ bị người Khmer chặn lại ở Champāsak, người Khơme đã xây dựng lên những đền tháp vĩ đại ở Wat Phū.

Sau đó tới lượt Lào lại bị chia ra thành nhiều nhóm, dựa trên địa điểm họ sinh sống và quan hệ của họ với dòng sông Mê Công. Các nhóm đó gồm Lào-Lum (Lào ở vùng trũng của châu thổ), Lào-Thoeng (Lào ở những sườn núi dốc) và Lào-Sūng (Lào ở trên đỉnh núi). Nhóm cuối này gồm nhiều thiểu số ngôn ngữ chỉ còn giữ quan hệ xa với ngôn ngữ Thái. Lào-Lum, có đất canh tác tốt nhất và có con sông làm đường vận chuyển trở thành nhóm giàu có nhất trong số các dân tộc Thái-Lào. Những sự chia tách này để lại dấu ấn trong lịch sử Lào và vẫn tồn tại đến ngày nay, nhiều nhóm dân tộc Lào-Thoeng và Lào-Sūng rất ít trung thành với nhóm Lào-Lum hiện đang trị vì đất nước.

Sự nổi lên và suy sụp của nhiều quốc gia Lào thời kỳ đầu hiện nay chỉ còn được ghi lại trong truyền thuyết. Vị lãnh đạo đầu tiên được ghi lại trong lịch sử Lào là Khun Lô, có lẽ ông đã chinh phục vùng Luang Phrabāng từ tay những nhóm người không phải Thái vào thế kỷ thứ 12. Bởi vì sông Mê Công bị chia thành ba vùng vận tải thuỷ riêng biệt theo độ dốc của nó, giữa Luang Phrabāng và Viêng Chăn (Vientiane) giữa Viêng Chăn và Savannakhēt, ba thành phố đó trở thành những trung tâm riêng biệt “tượng trưng” của Lào-Lum. Mô hình này chỉ bị phá vỡ khi người Mông Cổ xâm lược năm 1253, khi đội quân do Kublai Khan chỉ huy tiến về hạ lưu sông Cửu Long để tấn công vương quốc Khmer. Khi người Mông Cổ rút đi, một vương quốc mới là Sukhothai được người Xiêm dựng lên, sau này nó phát triển thành một nhà nước Xiêm hùng mạnh hơn với thủ đô ở Ayutthaya (được thành lập năm 1351). Vương quốc Lān Nā, đóng đô ở Chiềng Maigồm cả những đặc trưng Xiêm và Lào cũng được thành lập vào thời gian này.

Để đối trọng lại, những vị cai trị Thái-Lào ở LuangPhrabāng (lúc ấy được gọi là Xiang Dong Xiang Thong) lập nên một nhà nước mới, trong khi về danh nghĩa vẫn là nước phụ thuộc của nhà Nguyên (Mông Cổ) ở Trung Quốc, nhưng thực tế nó là lực lượng lãnh đạo các dân tộc Lào. Từ khoảng năm 1271 nước này do triều đình Phrayā cai trị. Khoảng năm 1350 một hoàng tử của triều đình là, Fā Ngum, chạy trốn khỏi triều đình với cha sau một vụ bất hoà và tìm nơi ẩn náu ở chỗ người Khmer tại Angkor, ông đã cưới một công chúa ở đây. Năm 1353 ông quay trở với tư cách chỉ huy một đội quân (với sự hỗ trợ của người Khơme), chiếm Xiang Dong Xiang Thong và lập nên một nhà nước Lào mới chiếm toàn bộ vùng châu thổ sông Mê Công nơi sinh sống của những bộ tộc nói tiếng Lào. Đó chính là Lān Xāng -Vương quốc Triệu voi.

Trong thập kỷ tiếp theo Fā Ngum tìm cách thống nhất toàn bộ nước Lào dưới quyền kiểm soát của ông. Ông chinh phục hầu như toàn bộ cao nguyên Khōrāt (Thái Lan), vùng Tây Bắc (Việt Nam), toàn bộ Champāsak và kéo dài xuống phía nam đến tận Stung Treng ở nơi hiện nay là biên giới phía bắc của Campuchia. Vợ ông được cho là người đã đưa Phật giáo tiểu thừa vào trong nước, nhánh Phật giáo này được các nhà sư truyền giáo từ Sri Lanka đưa sang Xiêm trong thế kỷ 13, và từ đó nó lan sang Đế chế Khmer. Tuy nhiên, năm 1368, vợ Fā Ngum chết, chỉ một thời gian ngắn sau khi triều đình nhà Nguyên ở Trung Quốc sụp đổ. Các sự kiện đó đã phá vỡ những mối quan hệ vốn có tác dụng duy trì quyền lực cho Fā Ngum, và năm 1373 ông bị lật đổ bởi một mưu đồ bên trong triều đình và bị thay thế bởi con trai mình là Unheuan, vị vua mới lấy tên là Sāmsaentai ("Vua của 300.000 người Thái").

Như vậy ta thấy, trong khi ở Lào mãi đến 1353 nhà nước thống nhất đầu tiên là Lan xang mới được thành lập thì ở Việt Nam trước đó hàng ngìn năm nhà nước Văn Lang thống nhất của các vua Hùng đã được thành lập. Cương vực lãnh thổ của nhà nước Văn Lang tương ứng với lãnh thổ của 15 bộ lạc Việt cổ; vùng Tây Bắc nước ta lúc đó thuộc bộ Tân Hưng, trong Dư địa chí của Nguyễn Trãi viết: “Tây Bắc xưa thuộc bộ Tân Hưng”.

Tuy nằm trong cương vực lãnh thổ của Đại Việt từ rất sớm nhưng Tây Bắc vẫn là vùng “đặc thù”, các tiểu quốc Thái chỉ chịu sự giàng buộc một cách lỏng lẻo của nhà nước Trung ương Đại Việt dưới xuôi, các chúa Thái vẫn “nghiêng ngả” lúc dựa vào Đại Việt chống Lào, lúc lại dựa vào Lào chống Việt…Do đó, cương vực lãnh thổ tiếp giáp giữa Tây Bắc (Việt Nam) với Thượng Lào trước thế kỷ XIV còn rất mờ nhạt và cũng có thể nói là chưa được xác định rõ ràng.

2. Sự tranh giành lãnh thổ giữa Tây Bắc (Việt Nam) với các tỉnh bắc Lào (XIV-XIX)

Trong khi vùng Trung và Thượng Lào nhà nước Lan Xan đến 1353 mới thành lập, cương vực lãnh thổ ở phía đông có sự chồng lấn bao gồm cả vùng Tây Bắc (Việt Nam) – vùng đất đã được các triều đình phong kiến Việt Nam dưới xuôi tìm cách thu phục từ rất sớm trong lịch sử:

+ Từ thời các vua Hùng dựng nước chia nước ta thành 15 bộ: Văn Lang, Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Cử Đức, Tân Hưng; Tây bắc thuộc bộ Tân Hưng. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi: “Tây Bắc xưa thuộc bộ Tân Hưng” [5, tr.33].

+ Thời Bắc thuộc, trong bối cảnh chung của dân tộc Việt Nam, Tây Bắc bị sát nhập trở thành bộ phận của Giao Châu (Trung Quốc). Sau khi khôi phục quyền tự chủ (thế kỷ X) địa giới của Tây Bắc từng bước được khôi phục trong cương vực lãnh thổ của Đại Việt.

+ Dưới triều Lý (XI) Tây Bắc thuộc châu Lâm Tây, Đăng; thời Trần thuộc lộ Đà Giang và Quy Hóa sau đổi là trấn Thiên Hưng. Năm 1014, tướng nước Đại Lý là Đoàn Kính Chí đem quân vào chiếm đóng châu Vị Long và châu Đô Kim (nay thuộc Tuyên Quang), vua Lý Thái Tổ sai con là Dực Thánh Vương đi đánh dẹp, quân Đại Lý đại bại, nhân cơ hội đó nhà Lý sáp nhập luôn khu vực ngày nay là Hà Giang vào Đại Việt. Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.

Theo sách sử Việt Nam, vào thời nhà Lý, đạo Đà Giang, man Ngưu Hống (tức người Thái) đến từ Vân Nam, đã triều cống lần đầu tiên vào năm 1067.

+ Trong thế kỷ 13, người Ngưu Hống kết hợp với người Ai Lao chống lại nhà Trần và bị đánh bại năm 1280, lãnh tụ Trịnh Giác Mật đầu hàng, xứ Ngưu Hống bị đặt dưới quyền quản lý trực tiếp của quan quân nhà Trần. Năm 1337 lãnh tụ Xa Phần bị giết chết sau một cuộc xung đột, xứ Ngưu Hống bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt và đổi tên thành Mương Lễ, hay Ninh Viễn (Lai Châu ngày nay) và giao cho họ Đèo – một dòng họ của người Thái có thế lực ở Tây Bắc cai quản.

+ Dưới triều Lê thế kỷ (XV), ngay từ khi thành lập nhà Lê đã đặc biệt quan tâm đến việc củng cố quốc gia phong kiến tập quyền thống nhất, trong đó có vấn đề biên cương ở cả phía Nam và phía Bắc. Năm 1431 lãnh tụ Đèo Cát Hãn, người Thái Trắng tại Mương Lễ, nổi lên chống triều đình, chiếm hai lộ Qui Hóa (Lào Cai) và Gia Hưng (vùng đất nằm giữa sông Mã và sông Đà), tấn công Mương Mỗi (Mười Muổi nay thuộc Thuận Châu - Sơn La) do Đèo Mạnh Vương (con của Đèo Cát Hãn) làm tri châu. Năm 1466, lãnh thổ của người Thái được tổ chức lại thành vùng (thừa tuyên) Hưng Hóa, gồm 3 phủ: An Tây (tức Phục Lễ), Gia Hưng và Qui Hóa, 4 huyện và 17 châu. Những lãnh tụ Thái được gọi là phụ tạo, được phép cai quản một số lãnh địa và trở thành giai cấp quí tộc của vùng đó, như dòng họ Đèo cai quản các châu Lai, Chiêu Tấn, Tuy Phụ, Hoàng Nham (Lai Châu, Lào Cai, Điện Biên); dòng họ Cầm các châu Phù Hoa, Mai Sơn, Sơn La, Tuần Giáo, Luân, Ninh Biên; dòng họ Xa cai quản châu Mộc, dòng họ Bạc ở châu Thuận (hay còn gọi là Mường Muổi); họ Hoàng ở châu Việt -  nay là Yên Châu (Sơn La); dòng họ Hà cai quản châu Mai nay là Mai Châu (một phần của Hòa bình ngày nay).

 Theo Đại Việt sử ký Toàn thư của Ngô Sĩ Liên, vùng Tây Bắc trên bản đồ của triều Lê được gọi là lộ Đà Giang do Sa Khả Sâm đứng đầu (Thủ lĩnh dân tộc Thái ở vùng Mộc Châu có công giúp Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống Minh, sau khi kháng chiến thắng lợi Ông được đổi sang họ của nhà vua và được phong tước đứng đầu lộ Đà Giang). Lộ Đà Giang gồm có 16 châu Thái, đó là:

Mường Lò (tức là tỉnh Nghĩa Lộ cũ nay thuộc Yên Bái), Mường Sang (Mộc Châu – Sơn La), Mường Tấc (Phù Yên, Bắc Yên – Sơn La), Mường Vạt (Yên Châu – Sơn La), Mường Mụa (Mai Sơn - Sơn La), Mường La (huyện Mường La – Sơn La), Mường Muổi (Thuận Châu – Sơn La), Mường Thanh (Điện Biên – tỉnh Điện Biên), Mường Tiến (Chiếu Tấn – nay thuộc Than Uyên), Mường Lay (huyện Mường Lay- tỉnh Điện Biên), Mường Tùng (Tùng Lăng), Mường Hoàng (Hoàng Nham), Mường Tiêng (Lễ Tuyền) Mường Chiềng Khiêm (châu Khiêm), Mường Chúp (Tuy Phụ), Mường Mì (Hợp Phì) – nay thuộc các huyện Mông Tự, Châu Kiến Thủy, Lâm An… thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) [4,tr.55].

Đáng chú ý là các châu: Châu Mộc, Mường Vạt (Yên Châu), Mường Mụa (Mai Sơn), Mường Thanh (Điện Biên), Mường Lay tiếp giáp với Lào

+ Châu Mường Lay, trong lịch sử dòng họ Đèo của Mường Lay cai quản cả một vùng rộng lớn bao gồm toàn bộ vùng Ninh Viễn (Lai Châu) và  Phongsaly của Lào ở phía Tây, các huyện Pak XengPak Ou thuộc tỉnh Luangprabang của Lào ở phía Tây Nam.

+ Châu Mường Thanh thời kỳ này rất rộng lớn bao gồm một phần của Luông pha băng, Phong saly (của Lào). Khi Lạng Chạng đưa một bộ phận người Thái Đen từ Mường Lò (Nghĩa Lộ ngày nay) đến Mường Thanh thì vùng đất này còn gọi là Song Thanh vì có hai mường: Thanh Nưa (Thanh trên) từ bản Noong Hét ngược về đầu nguồn sông Nậm Rốm và Thanh Tẩu (Thanh dưới) từ bản Noong Hét đến cuối sông Nậm Rốm. Tại đây có Viềng Xam Mứn (thành Tam Vạn) cổ kính của người Thái. Các mường thuộc Mường Thanh xưa gồm: Mường Phăng, Mường Nha, Mường Luân, Mường Lèo, Mường Lói nay thuộc huyện Điện Biên; Mường U nay thuộc tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào; Mường Và, Sốp Cộp nay thuộc tỉnh Sơn La.

+ Châu Mộc có từ đời Trần. Theo Đại Nam nhất thống chí, Châu Mộc có 23 động, phía Đông kéo dài đến hết Mai Châu (tỉnh Hoà Bình) phía Tây đến Yên Châu, phía Nam đến Quan Hoá (tỉnh Thanh Hoá), phía Bắc đến châu Phù Hoa. Năm Cảnh Thịnh thứ 36 (1775) thấy địa thế quá rộng anh em thổ tù lại không hoà thuận với nhau, nên triều đình đã chia Châu Mộc thành 3 châu: Châu Mộc, Mã Nam (ở phía Nam Sông Mã) và Đà Bắc (ở phía Bắc sông Đà). Như vậy, Châu Mộc vào thời Hậu Lê có địa giới rộng hơn Mộc Châu ngày nay bao gồm các huyện Mộc Châu, huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình) và một phần của huyện Quan Hoá, Bá Thước (tỉnh Thanh Hoá) và toàn bộ vùng đất thuộc tỉnh Hủa Păn, Luông pha băng, Sầm Nưa của Lào ngày nay. Thời Nhà Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 17, các động được đổi thành xã, các trấn được đổi thành tỉnh.

+ Châu Mường Mụa, trong lịch sử Mường Mụa cùng phần lớn tỉnh Sơn La ngày nay (gồm thành phố Sơn La, huyện Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Thuận Châu) và các vùng thuộc: Tương Dương, Kỳ Sơn của tỉnh Nghệ An; Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát của tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Hủa Phan của Lào... là lãnh thổ của vương quốc Bồn ManNăm 1479, thời vua Lê Thánh Tông sau khi chinh phạt tên phản bội Đèo Cát Hãn đã thức được sáp nhập vào Đại Việt và thuộc xứ Hưng Hóa [4,tr.52].

Sau đó, đến thời Mạc Kính Khoan do lục đục, nên 6 châu của vùng Đà Giang (Tây Bắc) bị bọn “Thổ quan” vùng Vân Nam (Trung Quốc) cướp mất là: Mường Tùng (Tùng Lăng), Mường Hoàng (Hoàng Nham), Mường Tiêng (Lễ Tuyền) Mường Chiềng Khiêm (châu Khiêm), Mường Chúp (Tuy Phụ), Mường Mì (Hợp Phì); mãi đến đầu thời Lê - Trịnh mới đòi lại được.

Đến khi Hoàng Công Chất kéo quân vào Thanh Hóa rồi theo sông Mã lên vùng Tây Bắc tiêu diệt giặc Phẻ giải phóng Tây Bắc. Năm 1769, Công Chất chết, con là Hoàng Công Toản bị dẹp, chạy sang Vân Nam. Nhà Thanh nhân lúc đó chiếm luôn 6 châu: Quảng Lăng, Hoàng Nham, Hợp Phi, Lễ Truyền, Khiêm Châu và Tuy Phụ. Những vùng đất chiếm được ở Tây Bắc nhà Thanh sát nhập vào các huyện Mông Tự, Châu Kiến Thủy, Lâm An… thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) [4,tr.55].

Vào khoảng thời gian 1763-1770, trong thời Lê trung hưng, Trấn Ninh (với cả Sầm Châu và Trình Quang) bị Lê Duy Mật chiếm đóng (bắt giam tù trưởng Trấn Ninh là (Lư) Cầm Hương), chống lại nhà Lê-Trịnh[6]Trịnh Sâm điều quân sang đánh dẹp Lê Duy Mật, lập lại trấn Ninh và giao cho cháu Cầm Hương là Lư Cầm Uẩn làm tù trưởng. Đến cuối thế kỷ 18 (thập niên 1770), vương quốc Xiêm đã hình thành và lớn mạnh, thì Muang Phuan (Trấn Ninh), trở thành một chư hầu của Xiêm, nhưng vẫn triều cống Đại Việt.

Thời nhà Tây Sơn Việt Nam, các tù trưởng Trấn Ninh, theo Xiêm và Vạn Tượng (Viêng Chăn) chống lại nhà Tây Sơn. Năm 1791, Trần Quang Diệu mang 3 vạn quân sang Trấn Ninh bắt được các tù trưởng Thiệu Kiểu, Thiệu Đế của trấn Ninh. Thời nhà NguyễnGia Long đem đất Trấn Ninh cắt về cho vương quốc Vạn Tượng của A Nỗ (Anouvong). Nhưng khi Chiêu Xanh, tù trưởng trấn Ninh khi ấy chết, A Nỗ không lập con Chiêu Xanh là Chiêu Nội (Chao Noi) lên, nên Chiêu Nội thù A Nỗ, đồng thời Chiêu Nội chạy sang phủ Trà Lân xứ Nghệ và xin nội thuộc lại Đại Nam (nhà Nguyễn). Đến khi A Nỗ chống lại nước Xiêm, bị người Xiêm (sai Chao Phraya Bodin Decha) đánh cho thua chạy sang Nghệ An, qua trấn Ninh bị Chiêu Nội bắt nộp cho Xiêm năm 1828[7]. Chiêu Nội bị Minh Mạng khép tội chết vì hành động này.

Sau khi giết Chiêu Nội, nhà Nguyễn cử quan Việt sang cai trị Trấn Ninh. Năm 1823, nhà Nguyễn đặt thêm huyện Liêm. Phủ Trấn Ninh vậy bao gồm các Liên, Khâm, Quảng, Khang, Cát, Xôi, Mộc, Liêm (vốn là mán Mường Hiểm). Những năm 1833-1834, trong chiến tranh Việt-Xiêmngười Thái tấn công Đại Nam (một trong các hướng là qua ngả Trấn Ninh), đất Trấn Ninh bị người Thái lấn dần.

Như vậy, trong lịch sử biên giới Việt Nam-Lào nói chung, vùng Tây Bắc tiếp giáp với các tỉnh Bắc Lào nói riêng có nhiều biến động, cho đến thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn vùng biên giới Tây Bắc của nước ta vẫn hết sức rộng lớn... Nhưng do sự can thiệp của thực dân Pháp trong quá trình hình thành Liên bang Đông Dương nên toàn bộ vùng đất phía Tây sông Mê công của Lào (20 triệu dân) bị cắt cho Thái Lan; một phần tỉnh PhongSaly, Luongpharabang, Udonsay, Xiêng Khoảng và toàn bộ tỉnh Hủa phăn trước đây thuộc Tây Bắc (Việt Nam) đã bị cắt cho Lào.

3. Sự xác lập đường biên giới Việt Nam-Lào qua Hiệp định 1893 và Công ước Pháp – Thanh 1895

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam. Sau khi cơ bản bình định được vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ, năm 1887 thực dân Pháp hình thành Liên bang Đông dương gồm 3 xứ của Việt Nam và Cao Miên. Để khẳng định phạm vi ảnh hưởng của mình và loại trừ ảnh hưởng của Mãn Triều khỏi vấn đề Việt Nam, năm 1887 thực dân Pháp và triều đình phong kiến Mãn Thanh đã thỏa thuận với nhau và đi đến ký kết Hiệp ước Pháp –Thanh (hay còn có tên là Công ước Constans 1887).

Công ước Pháp-Thanh 1887 được thực hiện giữa Pháp và nhà Thanh nhằm thi hành Điều khoản 3 của Hòa ước Thiên Tân mà hai bên đã ký năm 1885. Nội dung của công ước này nhằm phân chia lại đường biên giới giữa Bắc Kỳvà Trung Quốc.

Trong quá trình hai bên tiến hành phân chia đường biên giới; đại diện nhà Thanh là Lý Hồng Chương đã nói với với đô đốc Pháp Rieunier: “nước Pháp đã đạt được nhiều quyền lợi khi chiếm được Bắc Kỳ, một nước chư hầu của Trung Hoa 600 năm nay; việc này là nhờ trung gian của tôi. Nó đã gây cho tôi nhiều phiền phức; tôi nghĩ rằng một sự đền bồi dưới dạng nhượng vài vùng đất nhỏ trên vùng biên giới là cần thiết.” [9]

Thực dân Pháp nghe nói và cũng muốn để cho Trung Hoa công nhận sự chiếm đóng Bắc Kỳ của Pháp và không gây khó khăn trong quá trình xác lập chế độ thuộc địa ở Đông Dương nên đã nhân nhượng và thực hiện như sau:

Biên giới trên đất liền, Pháp đồng ý:

1. Cắt 3/4 đất tổng Tụ Long thuộc tỉnh Hà Giang, có diện tích 750km2 cho tỉnh Vân Nam - Trung Quốc

2. Cắt 9 xã rưỡi thuộc tổng Kiền Duyên và Bát Tràng thuộc tỉnh Quảng Yêncho tỉnh Quảng Đông - Trung Quốc.

Thực tế chúng ta cũng cần phải thấy được sự nhượng bộ của Pháp không phải chỉ có vậy, mà theo bản đồ địa giới Bắc Kỳ năm 1879 (khi đó lấy sông Dương Hà hay còn gọi là sông An Nam Giang làm biên giới giữa tỉnh Quảng Yên và tỉnh Quảng Đông) toàn bộ vùng đất gồm các huyện Mường Tè,Phong ThổSìn HồTam Đường thuộc tỉnh Lai Châu, các huyện Mường ChàMường NhéTủa Chùa của tỉnh Điện Biên là thuộc Bắc Kỳ. Thế nhưng, sau khi Hiệp ước Pháp – Thanh được kí kết (1887) thì biên giới nước ta bị chuyển xuống phía nam, lấy cửa sông Bắc Luân ở Hải Ninh (Móng Cái) làm địa giới, cho nên toàn bộ vùng đất gồm các huyện Mường TèPhong Thổ,Sìn HồTam Đường thuộc tỉnh Lai Châu, các huyện Mường ChàMường NhéTủa Chùa của tỉnh Điện Biên lại thuộc tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) quản lý.

Sau khi Hiệp ước Pháp – Thanh (1887) được ký kết, vấn đề nhà Thanh với Bắc Kỳ được giải quyết, thực dân Pháp có điều kiện để tập trung bình định nốt phần đất còn lại ở thượng du Bắc Kỳ (Tây Bắc) năm 1888 và hoàn tất vào năm 1896. Năm 1900, Pháp sát nhập Quảng châu loan vào Bắc Kỳ (Quảng châu loan là vùng đất phía đông của bán đảo Lôi Châu của Trung Quốc trở thành tô giới của Pháp từ 1898; sau Hiệp định Hoa-Pháp 28/2/1946 vùng đất này lại được trả lại cho quân Tưởng). Tới năm 1893, Pháp tiếp tục gây chiến với Xiêm La (Thái Lan) tranh quyền kiểm soát các vùng đất của Lào, kết quả Pháp thắng và đã hợp nhất các vùng Thượng Lào (Luang Pha Bang), Trung Lào (Viên Chăn) và Hạ Lào (Chăm Pa Sắc) thành một xứ Ai Lao thuộc Liên bang Đông Dương vào năm 1893. Cũng theo Hiệp ước 1893 nhiều vùng đất ở Mường Puồn thuộc Tây Bắc (Việt Nam) và vùng Trấn Biên thuộc Tây Thanh Hóa cũng bị  thực dân Pháp cắt cho Lào.

Trong thời kỳ này, Thực dân Anh cũng đã đưa toàn bộ Miến Điện vào thuộc địa của mình, Pháp lúc đó xem Xiêm là một đồng minh của Anh nên lo ngại ảnh hưởng của Anh sẽ lan đến vùng Tây Bắc, Bắc Kỳ. Kết hợp với Trung Hoa trên đà suy yếu sau khi bại trận trước Nhật trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất (1894-1895 hay còn gọi là chiến tranh Giáp Ngọ). Pháp tận dụng thời cơ đó ép nhà Thanh phân chia lại đường biên giới ở phía Tây Bắc (Bắc Kỳ) với Vân Nam

Việc đàm phán ngay lập tức được tiến hành và kết quả, vào ngày 20 tháng 06 năm 1895 tại Bắc Kinh đại diện của Pháp ở Trung Hoa là Đại sứ Gérard và đại diện Trung Hoa là Hoàng Thân Kinh – Chủ tịch Tổng lý Nha môn đã ký kết bản Công ước Pháp-Thanh (hay còn có tên gọi Công ước Gérard 1895) để phân chia lại đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam, nhằm bổ túc cho Công ước Pháp-Thanh 1887 [6].

Theo bản Công ước (1895), Pháp đã đưa ra hai đường biên giới với nhà Thanh, một là đường biên giới Bắc Kỳ – Vân Nam và hai là đường biên giới Ai Lao – Vân Nam:

+ Đường biên giới Bắc Kỳ – Vân Nam: phần lớn vùng đất gồm các huyệnMường TèPhong ThổSìn HồTam Đường thuộc tỉnh Lai Châu, các huyệnMường ChàMường NhéTủa Chùa thuộc tỉnh Điện Biên bị cắt cho Vân Nam quản lý (1887) lại được chuyển trả về cho Bắc Kỳ như cũ.

+ Đường biên giới Ai Lao – Vân Nam: Toàn bộ tỉnh Phongsali hiện nay của Lào, lúc đó đang thuộc Vân Nam quản lý chuyển về lãnh thổ của Ai Lao.

 Theo Công ước Pháp – Thanh 1895, phần lớn vùng đất Lai ChâuĐiện Biên và một phần Lào Cai ngày nay thuộc về xứ Bắc kỳ, còn phần đất ở bắc sông Bắc Luân (Đông Hưng) thuộc về nhà Thanh. Cũng theo Công ước Pháp Thanh 1895, nhiều vùng đất ở Tây Bắc (Việt Nam) bao gồm: toàn bộ tỉnh Hủa Phăn, một phần của Luôngpharabang, Sâm Châu (Sầm Nưa), Xiêng Khoảng bị thực dân Pháp cắt cho Lào từ đó đến nay.

Sau khi cơ bản ổn định tình hình, thực dân Pháp nhanh chóng củng cố bộ máy thống trị ở Tây Bắc. Ngày 27/2/1892, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định lập một tiểu quân khu (cercle) trực thuộc đạo Quan binh 4 trực tiếp cai quản vùng Tây Bắc, thủ phủ của tiểu quân khu này đặt tại Vạn Bú nên thường gọi là Tiểu quân khu Vạn Bú. Địa bàn của Tiểu quân khu Vạn Bú bao gồm: Phủ Vạn Yên với các châu Mộc, châu Phù Yên; Phủ Sơn La với các châu Sơn La, châu Yên, Mai Sơn, Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên (tất cả đều được tách ra từ tỉnh Hưng Hoá).       

Đến ngày 10/10/1895, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định bãi bỏ Tiểu quân khu Vạn Bú chuyển thành tỉnh Vạn Bú [11], đồng thời nhập toàn bộ Tiểu quân khu phụ Lai Châu vào địa bàn tỉnh Vạn Bú, tỉnh lỵ tỉnh Vạn Bú đặt tại Vạn Bú (Tiểu quân khu phụ Lai Châu được thành lập theo nghị định ngày 5/6/1893 của Toàn quyền Đông Dương gồm châu Lai, châu Luân, châu Quỳnh Nhai, châu Phong Thổ vốn là đất của tỉnh Hưng Hoá tách ra).

Ngày 7/4/1904, Toàn quyền Đông dương lại ra nghị định chuyển Tỉnh lỵ tỉnh Vạn Bú từ Vạn Bú về Sơn La [12]. Do đó ngày 23/8/1904 Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định đổi gọi tỉnh Vạn Bú  thành tỉnh Sơn La [12]. Tỉnh Sơn La lúc đó gồm có các châu: Châu Thuận, Mai Sơn, Châu Mộc, Mường La, Châu Yên, Phù Yên, Tuần Giáo, Điện Biên, Châu Lai, Quỳnh Nhai, phủ Luân Châu. Tên tỉnh Sơn La có từ đó nhưng địa bàn rộng lớn gồm toàn bộ tỉnh Sơn La và phần lớn tỉnh Lai Châu hiện nay [10, tr.286].

Đến ngày 28/6/1909, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định tách các châu: Quỳnh Nhai, Điện Biên, Tuần Giáo, Châu Lai và phủ Châu Luân thành lập tỉnh Lai Châu [131, tr.320]. Lúc này tỉnh Sơn La chỉ còn 6 châu: Sơn La (hay Mường La), Thuận Châu, Mai Sơn, Châu Yên, Châu Mộc, Phù Yên (cả Bắc Yên ngày nay).

Như vậy, đường biên giới tiếp giáp giữa Tây Bắc (Việt Nam) với các tỉnh Bắc Lào về cơ bản được xác định cho đến nay. Công ước Pháp – Thanh (1895) cũng chính là văn bản có tính pháp lý quan trọng để phân định lãnh thổ giữa nước ta với Trung Quốc và Lào về sau này.

 

C. Kết luận

Việc xác lập đường biên giới tiếp giáp giữa các tỉnh Tây Bắc (Việt Nam) với các tỉnh Bắc Lào là cả một quá trình lâu dài, gay go và hết sức phức tạp. Nguyên nhân của sự gay go phức tạp đó là do sự bành trướng của các chúa Thái ở Lào; sự “nghiêng ngả” của các chúa Thái ở Tây Bắc (Việt Nam) lúc dựa vào Việt chống Lào, lúc dựa vào Lào Chống Việt; sự áp đặt của thực dân Pháp…

Qua tìm hiểu về quá trình xác lập đường biên giới Việt – Lào (phần tiếp giáp giữa các tỉnh Tây Bắc (Việt Nam) với  tỉnh Bắc Lào chúng ta càng thấy rõ ý đồ thực dân của Pháp chứ không phải là vì “quyền lợi” của nhân dân “An nam” như nhiều người vẫn nhầm tưởng. Tuy nhiên, về mặt khách quan của lịch sử, Hiệp định 1893, Công ước Pháp – Thanh 1895 được ký kết thực sự là những văn bản pháp lý có tính giàng buộc đầu tiên về biên giới, lãnh thổ giữa Việt Nam với Lào và Trung  Quốc thời bấy giờ cũng như về sau này.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. (1975) Các tộc người ở Tây Bắc Việt Nam. Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc xuất bản.

2.(1998) Đại Việt sử ký toàn thư (Tập 1, 2, 3, 4) Viện khoa học xã Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội.

3. (1972) Nhân dân các dân tộc Tây Bắc chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1930).  Tập 1 (Sơ thảo). Ban dân tộc Khu tự trị Tây Bắc.

4. Đặng Nghiêm Vạn, Đinh Xuân Lâm (1975). Điện Biên trong lịch sử. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.

5. Nguyễn Trãi (1959): Dư địa chí (Bản dịch của Phan Huy Tiếp; Hà Văn Tấn chú thích và giới thiệu ).  Nhà xuất bản Sử học, Hà Nội.

6. Công ước Pháp – Thanh (1887), 1895. Bản dịch của Trung Tâm lưu trữ Quốc Gia I. Tràng Thi, Hà Nội

7. Quam tô mương của (Kể chuyện bản mường) của dân tộc Thái ở Tây Bắc. Bản dịch của Hoàng Trần Nghịch, Tài liệu lưu tại kho lưu trữ Sở Văn hóa Sơn La.

8. Táy Pú Xấc (Những bước đường chinh chiến của cha ông).Tài liệu lưu tại Bảo tàng Sơn La.

9. FR-CAOM, fonds des amiraux du Gouvernement Général de l’Indochine (1858-1945), Affaires politiques (1874-1953) F155, lettres de l’Amiral Rieuner au Ministre Marine, le 10/10/1886. (Trung tâm lưu trữ  Văn khố Hải ngoại Pháp. Phông các Đô đốc của Chính phủ Toàn quyền Đông Dương (1858-11945), Các vấn đề chính trị (1874-1953), F155 thư của Đô đốc Rieuner gửi Bộ trưởng Hải quân, ngày 10/10/1886).

10.Dương Trung Quốc (2001): Việt Nam những sự kiện lịch sử  (1819 – 1945). Nhà xuất bản Giáo duc,  Hà Nội.

11. Le  Gouverneur géneral de l’ Indochine  de l’ arrêté. Hanoi, le 10 octbre 1895,  A. ROUSSEAU.

12. Le  Secrètaire géneral de l’ Indochine, et le Directeur géneral des travaux publies sont chargés, charcun en  ce qui le concerne, de l’excution du président arrêté.  Hanoi, le 7 avril 1904, BEAU. Le Resident supérieur Ton kin  est chargé de l’excution du  président arrêté.  Hanoi, le 23 aoùt 1904, BEAU.

                                                                                                         

                                                                                                            TS. Phạm Văn Lực

 

                                                                                             Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc