VAI TRÒ CỦA VIỆT KIỀU TRONG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở VIÊNG CHĂN – LÀO (THÁNG 8 – 1945)

 

VAI TRÒ CỦA VIỆT KIỀU TRONG ĐẤU TRANH GIÀNH CHÍNH QUYỀN Ở VIÊNG CHĂN – LÀO (THÁNG 8 – 1945)                                           

 

 Nói về tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt Lào – Việt Nam đồng chí Thoonglun Sisulit – Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước CHDCND Lào từng viết: “Lào và Việt Nam là hai nước láng giềng có 2.067 km đường biên giới chung với nhau,nhân dân hai nước có truyền thống đồng cam cộng khổ, kề vai sát cánh bên nhau trong cuộc đấu tranh chống một kẻ thù chung. Máu của các chiến sĩ Lào và Việt Nam đã thấm đẫm trên lãnh thổ hai nước vì nhiệm vụ cao cả là đấu tranh giải phóng dân tộc…”

 

Trong sự hy sinh vì độc lập dân tộc của nước Lào, phải kể đến công lao to lớn của Việt kiều, những người con  gốc Việt  nhưng đã xem Lào là quê hương thứ hai. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh dặn dò kiều bào ở Lào nhân dịp tết độc lập đầu tiên năm 1946: “… Lào và Việt Nam là hai nước anh em. Mối quan hệ giữa hai dân tộc rất là mật thiết. Đối với kiều bào ta sinh sống ở đất nước Lào thì Lào lại là một tổ quốc thứ hai…” [5; 113].

 

1. Vài nét về Việt kiều trên đất Lào

 

 Kiều bào Việt Nam ở Lào gồm: một số di cư từ thế kỉ XIX, khi Việt Nam thiết lập chế độ phong kiến dưới triều vua Gia Long. Một số di cư sau những phong trào yêu nước và cách mạng thất bại, nhất là sau Xô viết Nghệ Tĩnh, bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, một số di cư trong nạn đói  năm Ất Dậu (1945)…

 

 Nhìn chung, trước Cách mạng Tháng 8 – 1945, Lào cũng như Việt Nam và Campuchia, là ba nước Đông Dương cùng chung cảnh ngộ, 80 năm dưới ách nô lệ lầm than, thuộc địa của thực dân Pháp, với chính sách đô hộ của chủ nghĩa thực dân, nhằm khai thác triệt để ba nước Đông Dương. Nước Lào lại đất rộng người thưa nên trước 1945 người Việt đã sang sinh sống ở đây khoảng 5 vạn người, tập trung ở các thành phố Viêng Chăn, Thà Khẹc, Sa Vẳn Nà Khệt, Pắc Xế. Do giao thông thuận lợi, từ Việt Nam sang Lào có đường số 12 từ Quảng Bình qua, đường số 8 từ Nghệ Tĩnh sang nối liền với đường số 12 ở ngã ba Nhômmalạt rồi sang Thà Khẹc, từ Thà Khẹc ngược – xuôi dòng sông Mêkông  có thể đi đến các tỉnh khác trên đất nước Lào nên đa số người Việt sang đây là người miền Bắc, miền Trung và Nam Trung Bộ, như người Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Sơn Tây, Hà Đông, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi… rất ít người Nam Bộ. [5; 103]

 

 Người Việt sang đây thường sống ở các thị xã, thị trấn, hoặc ngoại ô, tập trung quây quần thành xóm làng, coi nhau như anh em họ hàng thân thích.

 

Thành phần xã hội gồm đủ các loại: công chức trong công sở, giáo học ,lính khố xanh, khố đỏ, công nhân nhà máy đèn, phu mỏ đồn điền, làm các nghề thợ thủ công, thợ may, thợ xây, thợ mộc, thợ nề, xây dựng đường xá, cầu cống, buôn bán… Việt kiều ở Lào cùng mang thẻ căn cước và đóng thuế thân như người Lào, cùng chung số phận là người dân nô lệ của cùng một tên thực dân Pháp nên họ cũng là một lực lượng cách mạng Lào. Hơn nữa, họ mang mang dòng máu yêu nước lâu đời, có lòng căm thù sâu sắc bọn đế quốc thực dân và tinh thần đấu tranh bất khuất.

 

Viêng Chăn là thành phố đông dân nhất nước Lào. Thành phố có khoảng 10.000 người Việt. [5; 104]. Mối quan hệ giữa bà con Việt kiều với nhân dân Lào rất mật thiết, học sinh Lào – Việt cùng học chung một trường nên rất gắn bó với nhau trong quan hệ xã hội cũng như trong các hoạt động khác. Đầu những năm 40, Viêng chăn đã có một Chi hội Việt kiều cứu quốc và nhiều phân hội hoạt động trên khắp thành phố.

 

Có thể nói, Người Việt có mặt từ rất sớm trên đất Lào và cũng sớm  hăng hái tham gia đấu tranh cách mạng ngay trên đất bạn. Phong trào đấu tranh cách mạng của người Việt ở Lào là phong trào yêu nước ở hải ngoại hiếm có trong lịch sử đấu tranh giải phóng của các dân tộc trên thế giới, có đóng góp không nhỏ đối với chiến thắng của quân dân Lào trong kháng chiến chống Pháp.

 

2. Vai trò của Việt kiều trong đấu tranh giành chính quyền ở Viêng Chăn (Tháng 8 – 1945)

 

- Hoạt động của Việt kiều ở Viêng Chăn giai đoạn chuẩn bị cách mạng giành chính quyền:

 

 Cùng với sự ra đời của Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 4 năm 1930, một số chi bộ đầu tiên ở Lào mà chủ yếu là người Việt cũng được thành lập ở Viêng Chăn, Thà Khẹc. Chính vì thế ngay từ những năm 1930 phong trào dấu tranh cách mạng của Việt kiều đã diễn ra khá sôi nổi ở nhiều thành phố ở Lào.

 

 Tại Viêng Chăn tháng 12 năm 1930, công nhân bến tàu Viêng Chăn mà đa số là Việt kiều đã bãi công, đòi tăng lương; trong các năm 1932 – 1933 ở các mỏ thiếc Bò Nèng, Phông Tịu có những cuộc bãi công lớn đòi tăng lương giảm giờ làm và cải thiện đời sống. Đầu 1933, chị em buôn bán nhỏ ở Viêng Chăn bãi thị, đấu tranh đòi giảm thuế và phản đối sự ngược đãi của chính quyền đối với giới tiểu thương…

 

Trên tinh thần định hướng hoạt động cách mạng Lào của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương (từ 27 đến 31/3/1935), phong trào

 

đấu tranh cách mạng của người Việt ở Lào càng sôi sục hơn. Tháng 12 năm 1935, công nhân nhà máy in, vận tải đã đình công; học sinh trường bách nghệ bãi khóa đòi tăng học bổng. Đầu những năm 1940, ở Viêng Chăn đã có một chi hội Việt kiều cứu quốc, dưới chi hội là các phân hội: Wat Si Mương, Thạt Khảo, Xăng Phin, Thạt Luổng, Wat Tày, Lò Bò, làng An Nam…

 

Từ những năm 1940, Việt kiều ở Viêng Chăn tham gia tích cực trong các tổ chức như: Quần chúng yêu nước Lào, “Hội Tương tế”, “Hội phản đế”, “Ai Lao độc lập Đồng minh hội”. Những tổ chức này đã thổi vào Lào một luồng đấu tranh mới như đồng chí Cayxỏn Phômvihản nhận định “Trong thời kì vận động bí mật đầu những năm 40, với khẩu hiệu: Đánh Pháp đuổi Nhật, giành độc lập, tổ chức Ai Lao Độc lập Đồng minh hội là một hình thức mặt trận dưới sự lãnh đạo của Đảng lúc bấy giờ, đã tập hợp một số công nhân, thanh niên, viên chức, dân nghèo thành thị (kể cả một số Việt kiều) thu hút được phong trào “Lào Xêry” do một số trí thức tiểu tư sản tiến bộ vừa nhen nhóm lên” [2; 65]. Lần đầu tiên trong lịch sử thống trị ở Lào, thực dân Pháp phải lập ở Xiêng Khoảng một trại tập trung lao động khổ sai để cầm tù những người bị chúng cho là nguy hiểm.

 

   Cuối năm 1944, “Đội Tiền phong” – một tổ chức tiền thân của Xứ ủy Ai Lao lần thứ tư được thành lập, do đồng chí Nguyễn Chấn là Bí thư. Dưới sự chỉ dạo của “Đội Tiền phong” các chi bộ Đảng ở Viêng Chăn lần lượt được củng cố, phong trào yêu nước của Việt kiều Lào phát triển mạnh.

 

 Tháng 2 năm 1945, Đại hội đại biểu Việt kiều cứu quốc ở cả Thái Lan và Lào được triệu tập, để thống nhất tổ chức thành “Tổng hội Việt kiều cứu quốc toàn Thái – Lào”. Đại hội đã bàn việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc để cứu nước và xác định “Mục đích và nhiệm vụ tối cao của các tổ chức Việt kiều đều nhằm hưởng ứng và tham gia vào công cuộc đấu tanh giành độc lập của xứ sở…” [8; 41].

 

Đại hội nhận định rằng : “Bọn phát xít Đức – Ý – Nhật đã đến giờ cáo chung; đế quốc Pháp ở Đông Dương đổ nát. Mặt trận Dân chủ thế giới đã đến ngày thắng lợi. Các nước bị xâm lăng ở châu Âu đã lần lượt cướp chính quyền tự chủ, kiều bào của những dân tộc bị xâm lăng đã lập thành những đội quân giải phóng, hăng hái từ nước ngoài kéo về để cùng với đồng bào họ giành lại quyền tự do, độc lập. Thời cơ có lợi cho cuộc vận động độc lập nước nhà chưa bao giờ tốt đẹp bằng ngày nay…” [8; 42].

 

            Trên cơ sở  đánh giá tình hình thế giới và trong nước, Đại hội quyết định: “Phải chuẩn bị lập chiến khu để tổ chức đội quân giải phóng về nước cùng đồng bào chiến đấu…, và “Liên lạc với “Đảng Thái tự do”  và “Hội Lào Tự do để liên minh với các tổ chức này cùng nhóm chống phát xít Nhật” [8; 42]

 

            Nhờ có chủ trương và phương thức hoạt động thích hợp: Kết hợp được phong trào cách mạng, yêu nước mạnh mẽ của Việt kiều với xu hướng yêu nước tiến bộ của Lào; đồng thời tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của Đảng Thái Tự do và nhân dân Đông Bắc Thái Lan, tổ chức Đảng và Tổng hội Việt kiều Thái – Lào đã vượt mọi khó khăn, khôi phục và phát triển cơ sở quần chúng rộng khắp, tạo điều kiện cơ bản cho việc thiết lập các khu căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang, chuẩn bị tiến hành cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào khi thời cơ đến.

 

- Tổng hội Việt kiều Thái – Lào lập căn cứ, xây dựng lực lượng vũ trang hợp tác với các lực lượng yêu nước tiến bộ của Lào chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền ở Lào.

 

Sau khi hất cẳng thực dân Pháp (tháng 3 – 1945), phát xít nhật lập ngay ách thống trị của chúng. Để che dấu bộ mặt xâm lược, Nhật vẫn duy trì hệ thống cai trị của chính quyền Vương quốc do Pháp lập ra và cho nhà vua Xi Vàng Vông ra tuyên bố: “… Nước Lào độc lập và tán thành hợp tác với Nhật trong mọi lĩnh vực”. Chúng còn lôi kéo một số người ra tờ báo “Lào thịnh vượng” (Lào Cha Lơn) tuyên truyền cho việc lập “khuc vực thịnh vượng” theo thuyết “Đại Đông Á”…

 

Trước tình hình hết sức khẩn trương, chấp hành chỉ thị của Ban Thường vụ Trung ước Đảng Cộng sản Đông Dương, ngày 28 tháng 3 năm 1945, Ban lãnh đạo Đội Tiền phong đã họp với đại biểu các chi bộ Đảng ở Lào và Thái Lan tại một địa điểm ở hữu ngạn sông Mê Kông đối diện với Viêng Chăn.

 

            Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền, Hội nghị thống nhất đề ra một số công việc cấp bách trước măt là: Thúc đẩy công tác tuyên truyền vận động nhân dân Lào và Việt kiều ủng hộ và tham gia khởi nghĩa; xúc tiến việc lập chiến khu, xây dựng lực lượng vũ trang; tổ chức huấn luyện quân sự để chuẩn bị khởi nghĩa; cử người liên hệ với Đảng Thái Tự do (Thau Xê Ri), tranh thủ sự giúp đỡ của họ trong việc lập các khu căn cứ trên đất Thái, vận động số người Lào trong Hội Lào Tự do (Lào Itsxala) hợp tác tham gia phong trào cứu nước [8; 45].

 

Chấp hành các chủ trương trên, Tổng hội Việt kiều Thái – Lào đã khéo léo tranh thủ được những người đứng đầu của Đảng Thái Tự do ở Đông Bắc Thái Lan giúp đỡ. Nhờ đó, các chiến khu của Việt kiều được thành lập như: Chiến khu Phu Phan, Na Kè , Bản Mày. Tháng 4 năm 1945, lớp huấn luyện quân sự ngắn hạn đầu tiên gồm 30 thanh niên Việt kiều được tổ chức; sau đó tiếp tục huấn luyện cho hơn 150 đội viên. Vũ khí, lương thực của đơn vi do Việt kiều đóng góp tiền mua và Đảng Thái Tự do giúp đỡ một phần. Từ chiến khu Na Khè, các đơn vị vũ trang nhỏ cũng được thành lập, chia súng và bố trí lực lượng về các khu vực sát với bờ sông Mê Kông. Các đơn vị đã sống và trà trộn với bà con Việt kiều, làm nhiệm vụ tổ chức huấn luyện tự vệ, bảo vệ cơ sở, giúp dân sản xuất và sẵn sàng chờ lệnh hoạt động.

 

- Việt Kiều trong khởi nghĩa giành chính quyền ở Viêng Chăn (tháng 8 – 1945)

 

Ngày 13 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện. Quân đội Nhật ở Đông Dương hoang manng cực độ, chính phủ tay sai của Nhật ở Lào, Việt Nam, Canpuchia  hoàn toàn tan rã. Tình hình diễn biến rất nhanh, cơ hội “ngàn năm có một” của nhân dân ba nước Đông Dương giành độc lập đã tới. Trên đất nước Lào, tuy thời cơ khởi nghĩa đã xuất hiện, nhưng tình hình trong nước còn những diễn biến rất phức tạp: Các lực lượng cách mạng phát triển không đồng đều giữa thành thị và nông thôn, quân Pháp dưới sự giúp đỡ của quân Anh quay lại đánh chiếm một số khu vực ở Hạ Lào, quân Tưởng tràn vào các tỉnh trung Lào, Nội các Luông Pha Băng thì hoang mang sợ quân Đồng minh nên cự tuyệt với các hoạt động của Tổng hội Việt kiều, một số chính giới Lào cũng tỏ ra thờ ơ, đợi thời, mạnh ai theo nấy…

 

            Mặc dù tình hình ở Lào có những diễn biến phức tạp, nhưng do nắm được chủ trương khởi nghĩa của Trung ương Đảng và có sự chuẩn bị trước, nên sau khi nhận được tin Nhật đầu hàng, Xứ ủy Ai Lao đã kịp thời tổ chức hội nghị và nhận định: Thời cơ khởi nghĩa đã đến, cần nhanh chóng tổ chức lực lượng lãnh đạo nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền và tổ chức chiến đấu bảo vệ độc lập chủ quyền, chống quân Pháp xâm lược trở lại.

 

Được tin phát xít Nhật đầu hàng, ngày 14 tháng 8 năm 1945, ban chỉ đạo khởi nghĩa đã họp với chi bộ Viêng Chăn do đồng chí Trần Nguyên Trinh là Bí thư, bàn kế hoạch khởi nghĩa và xác định: phải tăng cường đoàn kết Lào – Việt mới có lực lượng đấu tranh và phải tranh thủ cho được chính giới Lào chủ yếu là những người tiến bộ trong chính quyền, cảnh sát, bảo an. Đồng thời phải khéo léo vận động  Hoàng thân Phết Xa Rạt ủng hộ các lực lượng yêu nước để  tạo thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa.

 

Đặc biệt thắng lợi của cuộc khởi nghĩa 19 – 8 – 1945 của nhân dân Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ quần chúng Lào – Việt ở Viêng Chăn cũng như trên toàn đất nước Lào.

 

Đoàn thanh niên Việt kiều cứu quốc là lực lượng xung kích và động viên tổ chức các tầng lớp Việt kiều cùng với những người yêu nước Lào hăng hái tham gia các hoạt động cứu nước. Ban chỉ đạo khởi nghĩa cũng phái một số cán bộ có uy tín tiếp xúc với  “Ủy ban Lào pên Lào” ở Viêng Chăn, để thống nhất kế hoạch hành động.

 

 Mở đầu phong trào là cuộc đấu tranh của hơn 500 công nhân xưởng dệt Ca Pha (C.A.F.F.A – một xưởng dệt của công ty tư bản Pháp ở Viên Chăn. Đa số công nhân là Việt kiều còn lại là người Lào và Hoa kiều), vào ngày 16 tháng 8 năm 1945, đòi Nhật giao nhà máy cho Lào và yêu cầu Chính phủ Lào quốc hữu hóa nhà máy, trong lúc Nhật chuẩn bị rút, định quỵt tiền lương công nhân và giao nhà máy cho Pháp. Cuộc đấu tranh diễn ra quyết liêt, buộc Nhật phải trả tự do cho đại biểu công nhân và trao trả nhà máy cho chính quyền Viêng Chăn.

 

Lúc này ở Viêng Chăn, quân đội Nhật đã rút đại bộ phận lực lượng, số còn lại khoảng vài trung đội hiến binh sẽ rút đi Thà Khẹc ngày 22 tháng 9 năm 1945. Quân đội Vương quốc cũ có khoảng hơn 300 quân bảo an và gần 100 lính cảnh sát, trong đó có một số là người Việt Nam. Họ đang hoang mang, dao động. Ban chỉ đạo khởi nghĩa đã bàn với Tỉnh trưởng Khăm Mạo, đưa một số sĩ quan cũ tiến bộ vào chỉ huy bảo an và thống nhất với ban chỉ đạo khởi nghĩa tổ chức đội bảo an hỗn hợp Lào – Việt để tự vệ. Hoàng thân Phết Xa Rạt, từ chỗ hoang mang lúc ban đầu, nhờ sự vận động tíc cực của Tỉnh trưởng Khăm Mạo và một số người thân cận tiến bộ, đã đồng ý cho Việt kiều được mít tinh, biểu tình và tổ chức đội tự vệ để gìn giữ trật tự trị an.

 

Ngày 23 tháng 8 năm 1945, Ban chỉ đạo khởi nghĩa Viêng Chăn cùng với Tỉnh trưởng Khăm Mạo tổ chức một cuộc Mít tinh lớn tại khu vực chợ Mới (nội thành Viêng Chăn) gồm cả Việt kiều và nhân dan Lào tham gia. Đại biểu Việt kiều lên diễn đàn nói rõ chủ trương đoàn kết Lào – Việt chống thực dân Pháp, không để cho  Pháp trở lại cai trị Lào lần thứ hai. Ông Khăm Mạo thay mặt chính quyền Vương quốc và Ủy ban Lào pên Lào Viêng Chăn tuyên bố Việt kiều được quyền tổ chức các đội tự vệ, kêu gọi Việt kiều đoàn kết với nhân dân Lào, giúp đỡ Chính phủ Lào, cùng nhau chống Pháp, giành độc lập dân tộc cho hai nước. Cuộc mít tinh đã tăng cường lòng tin và tình đoàn kết Lào – Việt, làm cho các lực lượng Việt kiều và Lào yêu nước càng gắn bó, thúc đẩy phong trào đấu tranh rầm rộ công khai, thu hút đông đảo nhân dân Viêng Chăn tham gia.

 

            Trong chiến khu bí mật ở “căn cứ Xăng Phin” (Một khu vực cư trú của Việt kiều), lúc đầu có hơn một trung đội “Việt kiều giải phóng quân” từ Thái Lan chuyển về, ban chỉ huy đóng ở nhà chị Phan Thị Lạng (chị đồng chí Phan Trọng Tuệ). Sau đó, thu hút hàng trăm thanh niên đến luyện tập quân sự, hết lớp này đến lớp khác, khẩu hiệu “Tận dân vi binh”được thực hiện. Các phân hội Việt Kiều ở các khu vực trong thành phố Viêng Chăn như: Vắt Xi Mương, Thạt Khào, Xăng Phin, Thạt Luổng, Vắt Tày, Lò Lợn, Lang An Nam mỗi nơi thành lập một trung đội tự vệ. Gia đình nào cũng chuẩn bị giáo mác, nỏ, mảnh trai, nước ngâm ớt sẵn sàng chống địch, bảo vệ thành phố [8; 57].

 

Về phía Lào, số thanh niên yêu nước và binh sĩ giác ngộ được huấn luyện ở chiến khu Na Kè (Thái Lan) trở về đã cùng với lực lượng bản an, cảnh sát và một số thanh niên giác ngộ ở địa phương, tổ chức thành các “đơn vị Lào Itsala” đặt dưới sự chỉ huy của tỉnh trưởng Khăm Mạo và Ủy ban Lào Pên Lào Viêng Chăn.

 

Ngày 23 tháng 8 năm 1945 cũng là ngày nhân dân Viêng Chăn đã giành chính quyền về tay mình. Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Viêng Chăn có ảnh hưởng sâu sắc đối với phong trào cách mạng trong cả nước; góp phần quan trọng thúc đẩy, tạo điều kiện cho các thành phố, thị trấn khác đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong những ngày tiếp theo; đưa nhân dân Lào nhanh chóng  giành được độc lập vào ngày 12 tháng 10 năm 1945.

 

3. Kết luận

 

Khởi nghĩa giành chính quyền ở Viêng Chăn tháng 8 – 1945 giành thắng lợi do nhiều nguyên nhân. Đó là do có sự lãnh đạo đúng đắn, kịp thời và khôn khéo của Xứ Ủy Ai Lao và Ban chỉ đạo khởi nghĩa dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Đông Dương, đã phát huy được sức mạnh đoàn kết của các lực lượng yêu nước Lào - Việt, tranh thủ được sự hợp tác của chính giới Lào, kể cả những người đứng đầu chính quyền như Hoàng thân Phết Xa Rạt, Tỉnh trưởng Khăm Mạo… Trong đó phải kể đến công sức của Việt kiều Lào. Họ chính là sợi dây liên kết quan trọng giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào trong sự nghiệp chống kẻ thù chung - đế quốc Pháp, quân phiệt Nhật.

 

Có thể thấy trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Viêng Chăn – Lào, Việt Kiều có vai trò hết sức to lớn:

 

 Việt kiều có mặt trong các cuộc đấu tranh từ những ngày đầu vận động cách mạng Lào, thực hiện chỉ thị lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, nắm bắt thời cơ cách mạng, biết kết hợp chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào và kịp thời tổ chức lực lượng đấu tranh sát cánh bên nhân dân Lào, là điều kiện quan trọng làm nên chiến thắng của cuộc khởi nghĩa ở Viêng Chăn.

 

Thành lập “Tổng hội Việt kiều cứu quốc Thái – Lào”, đưa phong trào đấu tranh của Việt kiều dưới sự lãnh đạo của tổ chức này.

 

 Liên hệ và vận động nhân dân Lào chiến đấu chống kẻ thù chung, xây dựng lực lượng vũ trang, lập căn cứ chuẩn bị khởi nghĩa…

 

Việt kiều đã coi sự nghiệp cách mạng ở Lào như chính sự nghiệp của dân tộc mình, vì thế họ không tiếc máu xương, hy sinh cả tính mạng của mình để đem lại độc lập cho nước Lào.

 

Nhiệt tình cách mạng của Việt kiều ở Lào là một tình cảm thiêng liêng, tốt đẹp, là một trong những nhân tố quan trong góp phần vào thắng lợi của cách mạng Lào. Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng đất nước Lào, Việt kiều vẫn phát huy truyền thống tốt đẹp đó và cũng có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của Lào.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1)      Biên niên những sự kiện về Lào từ 1930 – 1975 của Ban công tác Miền Tây trực thuộc Trung ương Đảng, tập 1.

 

2)      Cayxỏn Phômvihản,  Một vài kinh nghiệm chính và một số vấn đề phương hướng của Cách mạng Lào. NXB Sự thật, Hà Nội, 1979.

 

3)      Lương Ninh (chủ biên), Đất nước Lào – Lịch sử và văn hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

 

4)      Lương Ninh (chủ biên), Lịch sử Đông Nam Á, NXB Giáo dục, 2005.

 

5)      Trần Đình Lưu, Việt kiều Lào – Thái với quê hương, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.

 

6)      Nguyễn Hùng Phi – TS. Buasi Chalơnsúc, Lịch sử Lào hiện đại Tập 1, Tập 2, NXB Chính trị Quốc gia, 2006.

 

7)      Thiếu tướng Lê Quốc Sản, Chi độ Hải ngoại IV, NXB TH Đồng Tháp.

 

8)      Đại tá Hà Minh Tân (chủ biên), Lịch sử quân tình nguyện Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Lào (1945 – 1954), NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002.

 

9)      Bùi Văn Thanh, Quan hệ đặc biệt Việt Nam – Lào, TL Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.

 

10)  PGS. TS Phạm Đức Thành (chủ biên), Cộng đồng người Việt ở Lào trong mối quan hệ Việt Nam – Lào, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008.

 

                                                       Đặng Thị Hồng Liên

     Giảng viên Khoa Sử - Địa

 

   Trường Đại học Tây Bắc

NHỮNG CON ĐƯỜNG RÈN LUYỆN KĨ NĂNG THIẾT KẾ BÀI HỌC THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC CHO SINH VIÊN SƯ PHẠM

 

Để đáo ứng nhu cầu đổi mới giáo dục sau năm 2015, đồng thời chuẩn bị hành trang cho sinh viên (SV) sư phạm khi ra trường, việc rèn luyện kĩ năng thiết kế bài học (KN TKBH) theo hướng tiếp cận năng lực (TCNL) có vai trò quan trọng. Kĩ năng thiết kế bài học theo hướng tiếp cận năng lực được rèn luyện qua các con đường chủ yếu sau:

1. Thông qua học tập các môn học

 

Rèn luyện KN TKBH theo hướng TCNL cho SV sư phạm được thực hiện trong quá trình đào tạo trong trường đại học với hoạt động chính là dạy và học. Trong hoạt động dạy học, giảng viên (GV) đóng vai trò tổ chức, lãnh đạo và điều khiển, hướng dẫn để SV tự rèn luyện KN TKBH theo TCNL. GV bộ môn Tâm lí – Giáo dục thực hiện rèn luyện KN TKBH theo TCNL cho SV thông qua các học phần: Tâm lí, giáo dục học, rèn luyện NVSP thường xuyên; GV phương pháp các khoa sẽ rèn luyện KN TKBH theo TCNL cho SV thông qua học phần phương pháp giảng dạy bộ môn. Đây là con đường cơ bản và truyền thống để rèn luyện KN TKBH theo TCNL cho SV sư phạm. Để rèn luyện KN TKBH theo TCNL cho SV bằng con đường này, nhà trường sư phạm cần có chương trình đào tạo định hướng năng lực, tập trung vào kết quả đầu ra của SV.

2. Rèn luyện trong các hoạt động thực hành, thực tập sư phạm

Thực tập sư phạm là hoạt động thực tiễn của SV tại trường phổ thông sau phần học lí thuyết, nhằm mục đích củng cố và năng cao nhận thức về nghề sư phạm, áp dụng kiến thức đã học vào thực tiễn rèn luyện các kĩ năng sư phạm. Đây được coi là con đường quan trọng và có tác động lớn nhất. Trong thực tập sư phạm, SV còn được trao đổi kinh nghiệm với các nhà giáo dục đã có kinh nghiệm, với bạn bè, từ đó có kế hoạch, cách thức rèn luyện, hoàn thiện tay nghề.

Thông qua thực tập sư phạm, SV được tiếp xúc với học sinh, với tình huống thật trong bài giảng sẽ là điều kiện thuận lợi giúp SV hiểu sâu sắc hơn về đặc thù, bản chất của bài học TCNL, điều đó tạo ra động lực chuyển biến trong nhận thức cũng như rèn luyện của SV về KN TKBH theo TCNL. Ngoài ra, quá trình này còn giúp cho các trường đại học sư phạm thâm nhập vào thực tiễn giảng dạy tại các trường phổ thông, tạo điều kiện để nắm bắt, bổ sung, điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo giáo viên cho phù hợp với thực tiễn.

3. Rèn luyện trong giao lưu, tự học và nghiên cứu

Tự học và nghiên cứu là con đường quyết định kết quả rèn luyện KN TKBH theo TCNL của SV, bởi lẽ trên lớp thầy cô có dạy tốt đến đâu, bản thân SV không tự giác, tích cực, chủ động rèn luyện thì cũng rất khó để hình thành KN cho bản thân. SV cần thường xuyên nghiên cứu lí thuyết, lên kế hoạch rèn luyện, tập thiết kế, đây là cơ hội để kiểm nghiệm lí thuyết trong thực tiễn.

Khi SV đã tiếp thu được hệ thống tri thức về TKBH, họ cần biến tri thức đó thành năng lực ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường bằng cách tham gia vào các hoạt động như TKBH, tập giảng, hội thảo, xemina, hội thi nghiệp vụ sư phạm. Đó là cách thức để kiểm chứng, trải nghiệm bài học trên lớp vào thực tiễn, khi được trực tiếp học tập với thầy cô, bạn bè, tạo cơ hội cho SV “hiểu sâu, nhớ lâu, vận dụng tốt”. Mặt khác SV phải tích cực, chủ động, tự giác luyện tập tạo nên những “nghi vấn tích cực” đối với những kiến thức đã học. Đây là con đường có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành KN TKBH theo TCNL.

4. Thông qua đánh giá sản phẩm của giảng viên, sinh viên

Khi SV để ý quan sát TKBH của GV qua các giờ học trên lớp, SV sẽ học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm từ thầy cô, thấy được điều hợp lý và chưa hợp lý ở GV để rút kinh nghiệm cho việc rèn luyện của bản thân. Tổng hợp thiết kế của các bạn SV trong lớp, trong nhóm cũng là một kho tàng những tri thức và kinh nghiệm mà SV có thể học hỏi.

Trong hệ thống kĩ năng dạy học, KN TKBH là kĩ năng có tầm quan trọng hàng đầu. Trong dạy học phát triển năng lực, người GV không chỉ sắp xếp lại kiến thức có sẵn mà thiết kế nội dung bài học, hoạt động dạy học, phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp với hình thành năng lực cho HS. Vì vậy, rèn luyện KN TKBH theo tiếp cận năng lực là nhiệm vụ đào tạo hàng đầu trong trường sư phạm.

Người viết: Ths. Hoàng Thị Thanh Giang – Khoa Sử - Địa

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 -1975) Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

 Tóm tắt: Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đang là một trong những mục tiêu quan trọng của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức là biện pháp quan trọng để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. Bài viết trình bày về việc vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức để tổ chức hoạt động dạy học lịch sử ở trường THPT. Bằng phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp điều tra, khảo sát tác giả luận giải những khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đề xuất các một số biện pháp vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức để tổ chức hoạt động dạy học lịch sử nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn và góp phần làm phong phú các hình thức, kĩ thuật  dạy học lịch sử ở phổ thông.

Từ khóa: Sơ đồ, Phương pháp sơ đồ hóa, Phương pháp dạy học lịch sử.

1. Mở đầuMục tiêu đổi mới phương pháp dạy học được ghi rõ trong Luật giáo dục năm 2005 (bổ sung 2009) “Phương pháp giáo dục trung học phổ thông là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh”. Việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh là một trong những yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Để thực hiện mục tiêu trên, ngoài việc bám sát mục tiêu bài học, nội dung dạy học giáo viên cần chủ động khai thác có hiệu quả các phương pháp dạy học hiện đại theo hướng tích cực. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học biệp pháp quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Quan niệm về sơ đồ hóa kiến thức và phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử

Sơ đồ hóa kiến thức là cách thức sử dụng hệ thống các kí hiệu, hình khối, màu sắc... để chuyển hóa kiến thức dưới dạng văn bản sang dạng sơ đồ. Việc sắp xếp kiến thức theo hệ thống với mục đích, nội dung, yêu cầu, nguyên tắc nhất định và được phân loại thành các dạng sơ đồ.

Sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử có thể hiểu một cách chung nhất là cách thức cụ thể hóa, mô hình hóa nội dung một sự kiện, hiện tượng, vấn đề lịch sử dưới dạng mô hình được quy ước mang tính tượng trưng khi phản ánh một mặt số lượng, chất lượng của quá trình vận động, khuynh hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo… trong đời sống xã hội loài người.

Phương pháp sơ đồ hóa được hiểu là cách thức chuyển hóa kiến thức ở dạng văn bản sang dạng sơ đồ thông qua hệ thống các kí hiệu, màu sắc, hình khối … Phương pháp sơ dồ hóa kiến thức còn là cách thức vận dụng sơ đồ đã chuyển hóa dưới dạng mô hình để tổ chức hoạt động dạy học có mục đích và có kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả bài học và chất lượng dạy học bộ môn.

2.2. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở trường THPT

Dựa vào nội dung cơ bản của chương trình lịch sử Việt Nam (1954-1975), trong quá trình vận dụng tác giả tập trung loại kiến thức để chuyển hóa thành sơ đồ như: Khái niệm lịch sử mang tính trừu tượng; Sự kiện, hiện tượng lịch sử có mối quan hệ phức tạp; Nội dung kiến thức cần hệ thống khái quát; Nội dung kiến thức cần rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh. Hệ thống sơ đồ hóa kiến thức được cụ thể như sau:

2.2.1. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức để tổ chức hoạt động khởi động

Hoạt động khởi động là một biện pháp góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay. Có nhiều hình thức tổ chức hoạt động khởi động như: tổ chức trò chơi, đóng vai nhân vật, kể chuyện, đố vui, ghép chữ, thực hành thí nghiệm, xây dựng các tình huống, lập giả thiết khoa học...Dựa vào đặc trưng bộ môn Lịch sử, mục tiêu, nội dung của bài học, đối tượng là học sinh trung học phổ thông và ưu thế của phương pháp sơ đồ hóa kiến thức, chúng tôi đề xuất một số hình thức khởi động trong dạy học lịch sử ở trường THPT: Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức kết hợp với câu hỏi tạo tình huống và bài tập nhận thức; Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức kết hợp với đố vui lịch sử; Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức để định hướng kiến thức cơ bản.

Ví dụ khi dạy bài 22 mục V “Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (Lịch sử 12), nhằm giúp học sinh hiểu được nội dung bài học: Hoàn cảnh và quá trình diễn ra Hội nghị Pari; Nội dung cơ bản của Hội nghị; Ý nghĩa, tác động của Hiệp định Pari năm 1973. Trước khi dạy học bài học mới, giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động khởi động tìm câu trả lời đúng cho một câu hỏi hay bài tập nhận thức mà giáo viên cho trước dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức. Nội dung của sơ đồ hóa kiến thức được giáo viên thiết kế có sự vận dụng của kiến thức cũ đã học ở bài học trước nhưng có liên quan đến kiến thức trong bài học mới. Nội dung kiến thức và cách thức tổ chức hoạt động khởi động được cụ thể như sau:

 

Xem thêm: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 -1975) Ở TRƯỜNG...

Nghiệm thu đề tài NCKH cấp cơ sở của giảng viên khoa Sử-Địa năm học 2017-2018

Thực hiện Quyết định số / ngày 19 tháng 12 năm 2018 của Trường Đại học Tây Bắc về việc thành lập các hội đồng nghiệm thu đề tài NCKH cấp cơ sở, Ngày  tháng  năm 2018, tại Văn phòng Khoa Sử-Địa đã tổ chức thành công hội nghị nghiệm thu ( em ghi mấy đề tài vào đây) đề tài NCKH của giảng viên. Đề tài “….” do PGS.TS Phạm Văn Lực làm chủ nhiệm, đề tài “ Vạn vật hữu linh-nét độc đáo…” do TS Lường Hoài Thanh làm chủ nhiệm, đề tài “….” do TS Tống Thanh Bình làm chủ nhiệm …

     Tại buổi nghiệm thu, Hội đồng đã nghe các chủ nhiệm đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu sau một quá trình làm việc nghiêm túc, khoa học và tâm huyết. Cũng trong buổi nghiệm thu, Hội đồng đã ghi nhận và đánh giá cao về những kết quả mà các đề tài đã đạt được. Các cá nhân và nhóm thực hiện đề tài đã hoàn thành đầy đủ về số lượng và có chất lượng tương đối cao. Ngoài ra, Hội đồng nghiệm thu cũng đã có những chia sẻ, trao đổi đầy tâm huyết, trách nhiệm với các chủ nhiệm đề tài trên nhằm giúp cho các chủ nhiệm hoàn thiện đề tài hơn nữa để các đề tài này được sử dụng như tài liệu hữu hiệu phục vụ cho công tác giảng dạy của Khoa và Nhà trường. 

     Với những kết quả trên, công tác nghiên cứu khoa học của tập thể giảng viên Khoa Sử-Địa năm 2017 - 2018 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra và góp phần trong thành công chung vào công tác NCKH của Nhà trường.