VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 -1975) Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

 Tóm tắt: Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đang là một trong những mục tiêu quan trọng của công cuộc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức là biện pháp quan trọng để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình dạy học. Bài viết trình bày về việc vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức để tổ chức hoạt động dạy học lịch sử ở trường THPT. Bằng phương pháp nghiên cứu lí thuyết và phương pháp điều tra, khảo sát tác giả luận giải những khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, đề xuất các một số biện pháp vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức để tổ chức hoạt động dạy học lịch sử nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn và góp phần làm phong phú các hình thức, kĩ thuật  dạy học lịch sử ở phổ thông.

Từ khóa: Sơ đồ, Phương pháp sơ đồ hóa, Phương pháp dạy học lịch sử.

1. Mở đầuMục tiêu đổi mới phương pháp dạy học được ghi rõ trong Luật giáo dục năm 2005 (bổ sung 2009) “Phương pháp giáo dục trung học phổ thông là phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh”. Việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh là một trong những yêu cầu cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Để thực hiện mục tiêu trên, ngoài việc bám sát mục tiêu bài học, nội dung dạy học giáo viên cần chủ động khai thác có hiệu quả các phương pháp dạy học hiện đại theo hướng tích cực. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học biệp pháp quan trọng góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay.

2. Nội dung nghiên cứu

2.1. Quan niệm về sơ đồ hóa kiến thức và phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử

Sơ đồ hóa kiến thức là cách thức sử dụng hệ thống các kí hiệu, hình khối, màu sắc... để chuyển hóa kiến thức dưới dạng văn bản sang dạng sơ đồ. Việc sắp xếp kiến thức theo hệ thống với mục đích, nội dung, yêu cầu, nguyên tắc nhất định và được phân loại thành các dạng sơ đồ.

Sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử có thể hiểu một cách chung nhất là cách thức cụ thể hóa, mô hình hóa nội dung một sự kiện, hiện tượng, vấn đề lịch sử dưới dạng mô hình được quy ước mang tính tượng trưng khi phản ánh một mặt số lượng, chất lượng của quá trình vận động, khuynh hướng phát triển của một hiện tượng kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, tôn giáo… trong đời sống xã hội loài người.

Phương pháp sơ đồ hóa được hiểu là cách thức chuyển hóa kiến thức ở dạng văn bản sang dạng sơ đồ thông qua hệ thống các kí hiệu, màu sắc, hình khối … Phương pháp sơ dồ hóa kiến thức còn là cách thức vận dụng sơ đồ đã chuyển hóa dưới dạng mô hình để tổ chức hoạt động dạy học có mục đích và có kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả bài học và chất lượng dạy học bộ môn.

2.2. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức trong dạy học lịch sử Việt Nam (1954 - 1975) ở trường THPT

Dựa vào nội dung cơ bản của chương trình lịch sử Việt Nam (1954-1975), trong quá trình vận dụng tác giả tập trung loại kiến thức để chuyển hóa thành sơ đồ như: Khái niệm lịch sử mang tính trừu tượng; Sự kiện, hiện tượng lịch sử có mối quan hệ phức tạp; Nội dung kiến thức cần hệ thống khái quát; Nội dung kiến thức cần rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh. Hệ thống sơ đồ hóa kiến thức được cụ thể như sau:

2.2.1. Vận dụng phương pháp sơ đồ hóa kiến thức để tổ chức hoạt động khởi động

Hoạt động khởi động là một biện pháp góp phần đổi mới phương pháp dạy học nói chung, dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay. Có nhiều hình thức tổ chức hoạt động khởi động như: tổ chức trò chơi, đóng vai nhân vật, kể chuyện, đố vui, ghép chữ, thực hành thí nghiệm, xây dựng các tình huống, lập giả thiết khoa học...Dựa vào đặc trưng bộ môn Lịch sử, mục tiêu, nội dung của bài học, đối tượng là học sinh trung học phổ thông và ưu thế của phương pháp sơ đồ hóa kiến thức, chúng tôi đề xuất một số hình thức khởi động trong dạy học lịch sử ở trường THPT: Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức kết hợp với câu hỏi tạo tình huống và bài tập nhận thức; Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức kết hợp với đố vui lịch sử; Sử dụng sơ đồ hóa kiến thức để định hướng kiến thức cơ bản.

Ví dụ khi dạy bài 22 mục V “Hiệp định Pari năm 1973 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” (Lịch sử 12), nhằm giúp học sinh hiểu được nội dung bài học: Hoàn cảnh và quá trình diễn ra Hội nghị Pari; Nội dung cơ bản của Hội nghị; Ý nghĩa, tác động của Hiệp định Pari năm 1973. Trước khi dạy học bài học mới, giáo viên tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động khởi động tìm câu trả lời đúng cho một câu hỏi hay bài tập nhận thức mà giáo viên cho trước dưới dạng sơ đồ hóa kiến thức. Nội dung của sơ đồ hóa kiến thức được giáo viên thiết kế có sự vận dụng của kiến thức cũ đã học ở bài học trước nhưng có liên quan đến kiến thức trong bài học mới. Nội dung kiến thức và cách thức tổ chức hoạt động khởi động được cụ thể như sau:

 

Xem thêm: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP SƠ ĐỒ HÓA KIẾN THỨC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM (1954 -1975) Ở TRƯỜNG...

Nghiệm thu đề tài NCKH cấp cơ sở của giảng viên khoa Sử-Địa năm học 2017-2018

Thực hiện Quyết định số / ngày 19 tháng 12 năm 2018 của Trường Đại học Tây Bắc về việc thành lập các hội đồng nghiệm thu đề tài NCKH cấp cơ sở, Ngày  tháng  năm 2018, tại Văn phòng Khoa Sử-Địa đã tổ chức thành công hội nghị nghiệm thu ( em ghi mấy đề tài vào đây) đề tài NCKH của giảng viên. Đề tài “….” do PGS.TS Phạm Văn Lực làm chủ nhiệm, đề tài “ Vạn vật hữu linh-nét độc đáo…” do TS Lường Hoài Thanh làm chủ nhiệm, đề tài “….” do TS Tống Thanh Bình làm chủ nhiệm …

     Tại buổi nghiệm thu, Hội đồng đã nghe các chủ nhiệm đề tài báo cáo tóm tắt kết quả nghiên cứu sau một quá trình làm việc nghiêm túc, khoa học và tâm huyết. Cũng trong buổi nghiệm thu, Hội đồng đã ghi nhận và đánh giá cao về những kết quả mà các đề tài đã đạt được. Các cá nhân và nhóm thực hiện đề tài đã hoàn thành đầy đủ về số lượng và có chất lượng tương đối cao. Ngoài ra, Hội đồng nghiệm thu cũng đã có những chia sẻ, trao đổi đầy tâm huyết, trách nhiệm với các chủ nhiệm đề tài trên nhằm giúp cho các chủ nhiệm hoàn thiện đề tài hơn nữa để các đề tài này được sử dụng như tài liệu hữu hiệu phục vụ cho công tác giảng dạy của Khoa và Nhà trường. 

     Với những kết quả trên, công tác nghiên cứu khoa học của tập thể giảng viên Khoa Sử-Địa năm 2017 - 2018 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra và góp phần trong thành công chung vào công tác NCKH của Nhà trường. 

Nhân tố vùng quy hoạch mạng lưới các trường sư phạm ở Việt Nam đến năm 2025 tầm nhìn 2035 trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

 

o cáo quy hoạch mạng lưới các trường về đào tạo giáo viên với mục tiêu chung hình thành mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học và đào tạo giáo viên với cơ cấu hợp lý, có quy mô, chất lượng đáp ứng nhu cầu của người học và thị trường lao động phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và hội nhập quốc tế, quản trị đáp ứng yêu cầu cách mạng công nghiệp 4.0.

Để đạt được mục tiêu trên, quy hoạch như thế nào, ở đâu, dựa vào những tiêu chí gì, cũng như các trường phát triển theo mô hình nào cần phải cân nhắc và nghiên cứu. Trong buổi tọa đàm hôm nay, chúng tôi xin nêu nhân tố vùng trong quy hoạch:

Trên thế giới và ở Việt Nam cấp vùng đã và đang được sử dụng như một đơn vị cơ bản trong tổ chức lãnh thổ và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: Nhật Bản có 08 vùng; Malaysia - 6 vùng; Nepal - 5; Ấn Độ - 31; Tanzania - 8; Sudan - 7; Ba Lan - 5; Đan Mạch - 7. . . Ở Việt Nam sau 6 lần điều chỉnh, Nghị định 92/2006/NĐ-CP sử dụng sơ đồ 6 vùng kinh tế lớn. Quy hoạch mạng lưới các trường về đào tạo giáo viên nên cân nhắc, coi nhân tố vùng như một tiêu chí quan trọng, bởi vì:

             Nhân tố vùng trong chiến lược địa chính trị của quốc gia, bảo đảm quốc phòng an ninh của vùng: Trong nghiên cứu vùng người ta thường đề  cập tới luận chứng kinh tế, lý do chính trị ít khi được nói công khai, tuy có tầm quan trọng đặc biệt, chỉ khi nào biến cố xuất hiện, mới thấy hiện rõ.

Ví dụ: Cảnh báo về nguy cơ ly khai, cuốn sách nước Pháp năm 2005 đã nêu: Phía Đông là vùng giàu có, nằm sát trục phát triển Luân Đôn - Bỉ - Hà Lan - Đức, sẽ bị lôi cuốn vào lãnh thổ giàu có của Liên hiệp Châu Âu, để lại một nước Pháp nghèo khó ở phía Tây.

Thực tế cho thấy, ở những vùng kém phát triển trên mỗi nước thường xảy ra những bất ổn chính trị, bị tác động từ trong nội bộ cũng như từ ngoài vùng. Ví dụ: vùng Tây Tạng của Trung Quốc, Tây Nguyên, Tây Bắc Việt Nam. Gần đây, các địa phương (Móng Cái, Lạng Sơn) có xu hướng thịnh vượng bởi quan hệ kinh tế (bị hút) với các địa phương phía Trung Quốc, (Trung Quốc có chiến lược phát triển các địa phương vùng biên) ngược lại các tỉnh Tây Bắc Việt Nam lại đang làm điều tương tự với các tỉnh Bắc Lào. Do điều kiện tự nhiên và văn hóa - xã hội có nhiều nét tương đồng, nên tỉnh Tây Bắc và Bắc Lào đã có mối quan hệ thủy chung, láng giềng khăng khít, gắn bó lâu đời, cư dân vùng biên giới chủ yếu là người dân tộc thiểu số, hầu như cùng một nhóm tộc người, thường có những quan hệ dòng tộc, bản làng gần gũi.

Quy hoạch cần gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: Quyết định Số 1064/QĐ-TTg ngày 8/7/2013 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng Trung du và miền núi phía bắc đến năm 2020, thì vùng Trung du và miền núi xác định có 02 tiểu vùng: Tiểu vùng Tây Bắc gồm 4 tỉnh: Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên và Lai Châu. Còn Tiểu vùng Đông bắc gồm các tỉnh còn lại (Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Bắc Giang). Tại Quyết định này, các chỉ tiêu phát triển đối với từng ngành, lĩnh vực, tiểu vùng đã được xác định cụ thể. Mặt khác, quy hoạch của các tỉnh trong vùng đều gắn với chiến lược quy hoạch vùng của Chính phủ.

Quy hoạch cần gắn với đặc điểm địa lý – lịch sử - văn hóa và tính liên kết của từng vùng: Một số nhà địa lý Pháp và Việt Nam thống nhất xác định ranh giới giữa Tây Bắc bộ và Đông Bắc bộ là lấy đường chia nước của dãy núi Hoàng Liên Sơn để phân định. Tây Bắc thuộc vùng núi cao và núi trung bình là chủ yếu, chịu ảnh hưởng của gió Lào, ít mưa phùn vào mùa đông. Còn Đông Bắc chủ yếu là vùng núi thấp và đồi cao, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc mạnh hơn vùng Tây Bắc, mưa phùn về mùa đông.

Vùng Tây Bắc có chung đặc trưng văn hóa Thái - Mường. Trong khi đó các tỉnh phía Đông Bắc có đặc trưng văn hóa Tày - Nùng. Từ đặc trưng tự nhiên và văn hóa, nên từ xa xưa các tỉnh Tây Bắc đã có gắn bó về nhiều mặt. Với địa hình chia cắt, các dãy núi và thung lũng đều chạy theo hướng tây bắc - đông nam. Đặc biệt, Quốc lộ 6 nối các cực Hòa Hình - Sơn La - Điện Biên, khiến cho khả năng liên kết dọc giữa các tỉnh trong vùng và với các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Hồng mạnh hơn các tỉnh vùng Đông Bắc bộ.

                                                                                                                   TS. Phạm Anh Tuân - Trưởng bộ môn ĐLTN & PPDH ĐL

Những vấn đề chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng

Lời giới thiệu: Quan hệ hợp tác hữu nghị giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á không ngừng phát triển toàn diện và đi vào chiều sâu. Việt Nam ngày càng thể hiện vị thế và vai trò của một thành viên có trách nhiệm cao trong việc đảm bảo một môi trường hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trong nội bộ khu vực cũng như với các quốc gia, khu vực bên ngoài ASEAN.

Xem thêm: Những vấn đề chủ quyền lãnh thổ giữa Việt Nam và các nước láng giềng