Đào tạo, Đào tạo lại đội ngũ giáo viên Lịch sử ở Tây Bắc đáp ứng chương trình, SGK mới

ĐẶT VẤN ĐỀ

Để tiến tới triển khai chương trình, sách giáo khoa mới vào năm học 2020-2021, ngày 2 tháng 5 năm 2018 Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch số 270 về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông để thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới.

Vì thế, vấn đề đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên phổ thông ở tất cả các môn học, trong đó có giáo viên lịch sử đã trở nên vô cùng cấp bách và hết sức khó khăn. Riêng đối với vùng Tây Bắc - địa phương miền núi, có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, kinh tế nghèo nàn lac hậu, trình độ dân trí thấp, giáo viên lại phân tán trên một địa bàn rộng lớn, thì vấn đề đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên càng trở nên khó khăn và cấp bách hơn lúc nào hết. Trong phạm vi của một bài viết, tôi xin đề cập đến vấn đề này, cụ thể như sau:

NỘI DUNG

1. Khái quát tình hình đội ngũ giáo viên lịch sử phổ thông các tỉnh Tây Bắc hiện nay

Tình hình đội ngũ giáo viên lịch sử các tỉnh Tây Bắc có những đặc thù sau:

1.1. Giáo viên lịch sử phổ thông ở Tây Bắc đa thành phần dân tộc và chủ yếu được đào tạo ở các trường, khoa sư phạm ở miền xuôi.

Theo số liệu của Sở Giáo dục - Đào tạo các tỉnh Tây Bắc, tính đến năm học 2017 - 2018, ba tỉnh Tây Bắc (Sơn La, Điện biên, Lai Châu) có 1.439 giáo viên lịch sử cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, chủ yếu thuộc 7 dân tộc anh em: Kinh, Mường, Thái, Tày, Nùng, Dao, Lào, trong đó đông nhất là dân tộc Kinh 751/1.439 người, dân tộc Thái là 521/1.439 người, còn lại là các dân tộc khác. Trong tổng số 1.439 giáo viên lịch sử phổ thông của Tây Bắc thì có đến trên 81% giáo viên quê ở các tỉnh: Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Giang, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Ninh Bình, Nam Định và một số địa phương khác[11]

1.2. Về cơ sở và loại hình đào tạo

 Hầu hết giáo viên lịch sử ở Tây Bắc được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng sư phạm ở miền Bắc, chỉ có rất ít (31/1.439 người) được đào tạo ở Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Huế và một số cơ sở giáo dục khác ở phía Nam... Về loại hình đào tạo, gần 100% giáo viên lịch sử ở trung học cơ sở được đào tạo Liên thông từ Trung cấp, Cao đẳng lên đại học do Trường Đại học Tây Bắc, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Vinh... mở tại địa phương. Riêng đối với giáo viên lịch sử cấp trung học phổ thông, không chỉ ít về số lượng mà còn mỏng cả về chất lượng, hầu hết chưa đạt chuẩn ở trình độ Thạc sĩ... [11]

Tình hình đội ngũ giáo viên lịch sử ở Tây Bắc được thể hiện trong bảng dưới đây[1]:

Bảng 1. Đội ngũ giáo viên lịch sử trung học cơ sở trực tiếp đứng lớp ở  Tây Bắc

 

Cấp học

Sơn La

Điện Biên

Lai Châu

 

Ghi chú

Đại hoc

Cao đẳng

Dân tộc thiểu số

Đại hoc

Cao đẳng

Dân tộc

Thiểu số

Đại hoc

Cao đẳng

Dân tộc

Thiểu số

Trình độ khác

TH

Cơ sở

325

266

244

301

61

122

141

56

43

Sơn La có 2 Thạc sĩ

Tổng số

591

372

197

 

 

Bảng 2. Đội ngũ giáo viên lịch sử trung học phổ thông trực tiếp đứng lớp ở  Tây Bắc[2]

 

 

Cấp học

Sơn La

Điện Biên

Lai Châu

 

Ghi chú

Đại hoc

Thạc sĩ

Dân tộc thiểu số

Đại hoc

Thạc sĩ

Dân tộc

Thiểu số

Đại hoc

Thạc sĩ

Dân tộc

Thiểu số

Trình độ khác

TH Phổ thông

147

5

13

63

19

 

12

41

4

 

7

 

Tổng số

152

82

45

 

 1.3. Về chất lượng đội ngũ giáo viên lịch sử phổ thông ở Tây Bắc:

+ Về trình độ chuyên môn

Đội ngũ giáo viên lịch sử ở Tây Bắc trình độ chuyên môn không đồng đều, thậm chí có không ít giáo viên năng lực chuyên môn thuộc loại yếu kém… Tính đến năm học 2017 - 2018, số giáo viên được xếp loại Khá, Giỏi từ cấp huyện đến cấp tỉnh ở Tây Bắc chiếm chưa đầy 25%; số giáo viên có trình độ chuyên môn trung bình chiếm tới 55% và số giáo viên yếu kém chiếm trên dưới 20%; trong khi đó khả năngtự học, tự nghiên cứulại hạn chế, do rào cản về ngoại ngữ, tin học và năng lực nghiên cứu khoa học...[11]

+ Về năng lực sư phạm

Qua thực tế điều tra ở các trường phổ thông của Tây Bắc (12/2017) cho thấy, hiện nay giáo viên lịch sử phổ thông ở Tây Bắc yếu nhất ở hai điểm chính sau:

Thứ nhất. Không có kỹ năng, kỹ sảo trong dạy học bộ môn (tức là không thành thạo bộ môn). Có nghĩa là giáo viên không có khả năng tiếp cận và sử dụng các phương tiện kỹ thuật, phương pháp dạy học hiện đại, trên cơ sở hiểu biết một cách sâu sắc cơ sở triết học và tâm lý, giáo dục vào dạy học bộ môn.

Thứ hai. Khả năng dạy học liên môn tích hợp tri thức của giáo viên. Bộ môn lịch sử là một bộ môn với nhiều kiến thức tổng hợp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nên khi truyền đạt kiến thức, đòi hỏi giáo viên phải có sự hiểu biết về các môn học như: Văn học, Địa lý, Kinh tế, Văn hóa, nghệ thuật…Chỉ có như vậy, giáo viên mới có thể chuẩn hóa và truyền thụ được kiến thức cơ bản trọng tâm của bài học lịch sử cho học sinh một cách toàn diện và sâu sắc.

Ngoài ra, giáo viên lịch sử ở Tây Bắc cũng rất hạn chế trong việc khai thác, vận dụng các trang thiết bị và đồ dùng hiện đại vào dạy học bộ môn. Hiện nay, đa phần giáo viên ở Tây Bắc mới chỉ nghe nói đến phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh; còn hiểu bản chất của định hướng này là gì, vận dụng như thế nào, triển khai cụ thể ra sao ? lại là một vấn đề khác. Riêng về việc sử dụng đồ dùng trực quan, có rất ít giáo viên lịch sử ở Tây Bắc sử dụng; thậm chí nhiều người dạy ở vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn còn không bao giờ sử dụng đồ dùng trực quan. Về kiểm tra đánh giá, hiện nay giáo viên Tây Bắc vẫn phổ biến làm đề theo kiểu đối phó, hỏi những kiến thức vụn vặt, chỉ yêu cầu học sinh học thuộc, chủ yếu lo cho điểm số và thành tích thi đua…[3]

Trong điều kiện chương trình, sách giáo khoa lịch sử phổ thông vẫn còn nặng về kiến thức như hiện nay thì người giáo viên phải đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động tự học cho học sinh, để biến các em từ chỗ thụ động tiếp thu kiến thức, trở thành “người trong cuộc” tích cực, chủ động vươn lên tìm tòi, tiến tới tự mình chiếm lĩnh lấy kiến thức của bài học, thì ở Tây Bắc lại hiếm có người làm được. Mà phải làm được điều đó, chúng ta mới có thể khắc phục được những khiếm khuyết, hạn chế mà chương trình và sách giáo khoa nào cũng có;từng bước duy trì và nâng cao được chất lượng của dạy học bộ môn.

+ Về trình độ ngoại ngữ và tin học. Có thể nói, gần 100% giáo viên lịch sử phổ thông ở Tây Bắc yếu kém về ngoại ngữ và trên 80% về tin học[4]; đây là rào cản lớn nhất cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu và tìm kiếm thông tin phục vụ cho dạy học bộ môn của giáo viên.

+ Vấn đề thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện. Trong thực tế, bản thân chương trình và sách giáo khoa không thể làm tốt được chức năng giáo dục nếu không có vai trò của người thầy. Với nhân cách của người thầy, bằng tấm lòng nhân ái người thầy sẽ trực tiếp nêu gương, thông qua dạy chữ (kiến thức) để giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức cách mạng cho học sinh noi theo. Hiện nay nhiều giáo viên quan niệm chỉ lo dạy chữ (kiến thức) là chủ yếu, ít chú trọng đến việc dạy người (tư tưởng, tình cảm, đạo đức), trong khi môn học lịch sử lại có thế mạnh hơn hẳn các môn học khác trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức cách mạng cho học sinh một cách toàn diện, thông qua việc khai thác kiến thức ở từng bài, từng chương của chương trình lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới và lịch sử địa phương.   

            Phải thừa nhận, hoạt động xã hội có vai trò rất quan trọng để giáo viên lịch sử gắn hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học của mình với địa phương, góp phần kết nối nhà trường với xã hội và phát huy vai trò là trung tâm văn hóa, giáo dục của nhà trường với địa phương. Nhưng trong thực tế ở Tây Bắc hiện nay, không ít giáo viên trong dạy học lịch sử chỉ chạy theo chương trình và sách giáo khoa, lo đối phó với thi cử, thi đua. Giáo viên không có khả năng hoặc không có những điều kiện cần thiết để tổ chức hoạt động ngoại khóa, hướng dẫn học sinh thực hành và tham gia các họat động xã hội.Tình hình đó đã ảnh hưởngtrực tiếp đến vị trí, vai trò của môn học lịch sử ở trường phổ thông và trong đời sống xã hội hiện nay.

            Trước yêu cầu của cải cách giáo dục và chương trình giáo dục phổ thông mới, đòi hỏi người giáo viên lịch sử không chỉ là “người thầy giáo uyên thâm về kiến thức, có tay nghề dạy học cao” mà còn phải “mẫu mực về phẩm chất, nhân cách”, tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

            Để thiết thực nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và quá trình dạy học bộ môn thì công tác đào tạo, đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên lịch sử ở Tây Bắc phải được coi là nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu, liên tục thường xuyên, dưới mọi hình thức và nội dung đào tạo, bồi dưỡng phải toàn diện cả về chuyên môn, nghiệp vụ cũng như lịch sử - văn hóa địa phương, ngoại ngữ, tin học.

2. Thực trạng công tác đào tạo giáo viên Lịch sử ở các trường, khoa Sư phạm của Tây Bắc hiện nay

 2.1. Năng lực đào tạo giáo viên lịch sử trong các trường đại học, cao đẳng sư phạm ở Tây Bắc

Hiện nay ở Tây Bắc (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu) có 4 trường, khoa sư phạm tham gia đào tạo giáo viên lịch sử cho các tỉnh Tây Bắc và cả nước, đó là: Trường Đại học Tây Bắc, Trường Cao đẳng Cộng đồng Sơn La, Trường Cao đẳng Cộng đồng Điện Biên, Trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu.

Về đội ngũ cán bộ giảng viên lịch sử trong các trường đại học, cao đẳng ở Tây Bắc được thể hiện cụ thể như sau:

Bảng 3. Đội ngũ giảng viên lịch sử trong các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc[5]

STT

Tên trường

Tổng số giảng viên Sử

Phó Giáo sư

Tiến sĩ

Thạc sĩ

Nghiên cứu sinh

Thạc sĩ

Cử nhân

Ghi chú

1

Trường Đại học Tây Bắc

18

1

10

2

5

 

 

2

Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên

3

 

 

 

3

 

 

3

Trường Cao đẳng Sơn La

5

 

 

 

4

1

 

4

Trường Cao đẳng Lai Châu

4

 

 

 

3

1

 

 

Tổng số

30

1

6

6

15

2

 

           

Về khả năng biên soạn tài liệu phục vụ công tác đào tạo giáo viên trong các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc nhìn chung rất yếu, chỉ duy nhất ở Đại học Tây Bắc là có năng lực này, nhưng cũng rất hạn chế, do thiếu các chuyên gia đầu ngành.

Đánh giá chung

+ Theo khảo sát của chúng tôi, thực trạng đội ngũ giảng viên các trường, khoa sư phạm đào tạo giáo viên lịch sử ở Tây Bắc hiện nay, ngoài Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc có đội ngũ giảng viên trước mắt là tạm ổn, còn lại các Trường Cao đẳng Cộng đồng Sơn La, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, Trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu, đội ngũ giảng viên vừa ít về số lượng, lại mỏng về chuyên môn, chưa đáp ứng được yêu cầu chuẩn hoá của công tác đào tạo giáo viên.

+ Số giảng viên có học hàm, học vị ít, cả khu Tây Bắc hiện nay mới chỉ có 1 Phó Giáo sư, 10 Tiến sĩ Lịch sử, tập trung ở Trường Đại học Tây Bắc; còn phần lớn giảng viên vẫn dừng lại ở trình độ Thạc sĩ, một số đang còn là Cử nhân.

 Nhìn vào bảng thống kê trên đây, chúng ta thấy ở một trường đào tạo nghề mà đội ngũ giảng viên vừa ít về số lượng, mỏng về chuyên môn, lại đa phần là các giảng viên thuộc bộ môn khoa học cơ bản (Lịch sử Việt Nam, Lịch sử thế giới), số giảng viên dạy các môn học thuộc lý luận dạy học bộ môn và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm còn thiếu, nhiều giảng viên các bộ môn khác trong khoa phải sang dạy “kê” (kiêm nghiệm). Nếu so sánh với các bộ môn khác trong Khoa Sử - Địa của Trường Đại học Tây Bắc, thì bộ môn phương pháp cũng là bộ môn có số lượng giảng viên ít và non cả về chuyên môn, nghiệp vụ.

Nguyên nhân những hạn chế yếu kém của đội ngũ giáo viên lịch sử ở Tây Bắc

            Những hạn chế, yếu kém của đội ngũ giảng viên các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc hiện nay, tập trung ở một số nguyên nhân sau:

+ Sự phân bố không đều về số lượng và chất lượng giữa giảng viên dạy môn khoa học cơ bản với giảng viên dạy bộ môn phương pháp dạy học lịch sử và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; số cán bộ đầu ngành là giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ về phương pháp dạy học lịch sử ở Tây Bắc hiện chưa có.

+ Họat động nghiên cứu khoa học của giảng viên còn hạn chế, số bài báo khoa học của giảng viên có chất lượng được đăng trên tạp chí chuyên ngành có uy tín rất ít; một số giảng viên chỉ được vài ba bài viết trong các hội nghị, hội thảo không mấy uy tín; cá biệt có một số giảng viên trong suốt quá trình giảng dạy không có bài báo nào. Còn đối với việc viết sách và giáo trình thì hạn chế hơn nhiều, ở Khu Tây Bắc số người có sách và giáo trình giảng dạy được xuất bản chỉ tập trung ở Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc, nhưng số lượng cũng chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.

            + Phần lớn giảng viên có biết ngoại ngữ nhưng không sử dụng được; hoặc, sử dụng không thành thạo trong hoạt động chuyên môn. Đây là một rào cản rất lớn cho việc nâng cao trình độ và cập nhật tri thức mới trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay.

Trong số các nguyên nhân hạn chế, yếu kém của đội ngũ giáo viên lịch sử phổ thông ở Tây Bắc, không phải không có nguyên nhân từ công tác đào tạo giáo viên ở các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc hiện nay.

2.2. Thực trạng công tác đào tạo giáo viên lịch sử trong các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc

+ Chất lượng đầu vào thấp

            Có thể nói, tình hình tuyển sinh đầu vào ở các khoa, trường sư phạm ở nước ta những năm gần đây ngày càng giảm sút. Trong hoàn cảnh chung đó, tình hình tuyển sinh đầu vào của Ngành Sư phạm Lịch sử cũng không sáng sủa gì. Ở Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc là một ví dụ điển hình, từ năm 2011 trở lại đây, điểm đầu vào của ngành Đại học Sư phạm Lịch sử, Đại học Sư phạm Sử - Địa không bao giờ vượt quá điểm sàn của Bộ giáo dục và Đào tạo quy định; thậm chí từ 2015 đến nay đa phần chỉ là xét điểm học bạ trung học phổ thông theo tổ hợp của Trường quy định (còn với ngành Cao đẳng Sư phạm Sử - Địa hiện nay không tuyển được); hơn nữa vào học Sử phần lớn là sinh viên ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, số sinh viên có hộ khẩu tại thành phố Sơn La, Điện Biên, Lai Châu gần như không đáng kể. Điều đó phản ánh một hiện trạng là trên 90% sinh viên vào học ngành sư phạm lịch sử là con em nông thôn ở vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn của Tây Bắc, còn con em những gia đình có điều kiện không vào học Sử.

+ Về chương trình đào tạo

Chương trình đào tạo chuyên ngành Sư phạm Lịch sử trong các khoa, trường sư phạm ở Tây Bắc, được thể hiện trong bảng dưới đây:

Bảng 4.Chương trình đào tạo ngành sư phạm lịch sử các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc[6]

STT

Tên chương trình

Tổng số tín chỉ

Số tín chỉ LSVN

Số tín chỉ LSTG

Số tín chỉ

PP&NV

Bộ môn

Số tín chỉ Kiến - Thực tập

Số tín chỉ thực tế chuyên môn

1

Chương trình Đại học Sư phạm Lịch sử

135

40

42

14

12

4

2

Chương trình Đại học Sư phạm Lịch sử

(cơ bản tăng số tín chỉ cho Tiếng Anh)

150

42

44

14

12

2

3

Chương trình Đại học Sư phạm Sử - Địa

135

27

29

8

12

1

4

Chương trình Cao đẳng Sư phạm Sử - Địa

115

21

23

6

9

1

5

Chương trình Cao đẳng Văn - Sử - Giáo dục Công dân

115

9

17

3

9

0

 

Qua kết cấu chương trình đào tạo của các khoa, trường sư phạm đào tạo giáo viên lịch sử ở Tây Bắc, chúng tôi có những nhận xét sau:

Thứ nhất. Chương trình đào tạo mất cân đối giữa các môn khoa học cơ bản (lịch sử Việt Nam với lịch sử thế giới) với môn phương pháp dạy học bộ môn và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên.

Thực tế hiện nay, việc xây dựng chương trình đã được Bộ Giáo dục - Đào tạo quy định chương trình khung. Trên cơ sở đó, các khoa xây dựng chương trình tùy theo tình hình đặc điểm và khả năng của khoa mình. Qua khảo sát chương trình đào tạo, chúng tôi thấy số tín chỉ giành cho đào tạo nghề (gồm các môn: phương pháp dạy học bộ môn, chuyên đề và rèn luyện NVSP, kiến tập, thực tập) của các trường, khoa đào tạo giáo viên lịch sử ở Tây Bắc chỉ dao động từ 5 (hệ Văn - Sử -Giáo dục Công dân) đến 19 tín chỉ (Đại học Sư phạm Lịch sử). Nếu tính tất cả thời gian dành cho đào tạo nghề và thực tập nghề so với tổng số khoảng trên dưới 145 tín chỉ thì thời lượng dành cho đào tạo nghề mới đạt khoảng 13% thời lượng của chương trình; một tỷ lệ như vậy là quá thấp trong một trường đào tạo nghề. Đặc biệt,trongchương trình đào tạo của các trường hầu như không có một tiết nào dạy về kỹ năng mền của bộ môn, nhằm hỗ trợ cho sinh viên khi ra trường hoạt động đoàn thể, xã hội, hoặc xin việc…

Thứ hai. Chương trình đào tạo không chú ý đến dạy học liên môn tích hợp tri thức. Hầu hết, chương trình của các khoa, trường sư phạm đào tạo giáo viên lịch sử ở Tây Bắc đều không có học phần nhằm trang bị cho sinh viên kỹ năng dạy học liên môn tích hợp tri thức, với các môn: Ngữ văn, Địa lý, Triết học, Kinh tế, Khoa học…

Thứ ba. Chương trình đào tạo không gắn với thực tế. Các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc, trong quá trình đào tạo hầu như chưa gắn kết với trường phổ thông, nhiều giảng viên dạy phương pháp dạy học nhưng rất ít đi dự giờ của giáo viên phổ thông (thậm chí có người còn không dự bao giờ), ngay trong chương trình đào tạo, số tín chỉ dành cho những hoạt động này cũng quá ít (từ 9 đến 12 tín chỉ). Đối với hoạt động thực tế chuyên môn, cả khóa (cả đại học và cao đẳng) mới có 1 đợt đi thực tế chuyên môn; thế nhưng, do kinh phí đào tạo khó khăn nên việc tổ chức cho sinh viên đi thực tế chuyên môn lịch sử cũng chỉ là đi gần, ít có điều kiện để đi xa được (nếu có đi xa thì sinh viên phải tự túc toàn bộ kinh phí), thế mà có năm còn không đi được. Tình hình đó dẫn đến thực trạng: đào tạo không gắn với thực tế, sinh viên tốt nghiệp ra trường không nắm bắt được yêu cầu về đổi mới phương pháp ở phổ thông, nhất là dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.

Thứ tư. Thời gian thực tập, rèn nghề còn ít. Nội dung thực tập sư phạm trong chương trình đào tạo giáo viên lịch sử của các khoa và trường sư phạm ở Tây Bắc thường có 2 đợt: kiến tập sư phạm (ở kỳ 3 đối với cao đẳng, kỳ 5 đối với đại học); thực tập sư phạm (ở kỳ 6 đối với cao đẳng, kỳ 8 đối với đại học). Trọng tâm của đợt kiến tập sư phạm là giúp sinh viên làm quen với trường phổ thông, thực hành những nội dung về tâm lý, giáo dục. Sinh viên dự các buổi sinh hoạt chuyên môn của tổ bộ môn, nghe báo cáo về đổi mới giảng dạy và kinh nghiệm giảng dạy của giáo viên bộ môn; lập kế hoạch thực tập giảng dạy (dự giờ, tập giảng, lên lớp…) cho từng tuần và cả đợt; dự giờ của giáo viên hướng dẫn, soạn giáo án, dạy thử, nếu được giáo viên hướng dẫn đồng ý, sinh viên có thể giảng dạy ở trên lớp từ 1 đến 3 tiết. Trong đợt thực tập sư phạm, ngoài những công việc như kiến tập sư phạm, sinh viên giảng dạy từ 6 đến 8 tiết, do giáo viên hướng dẫn tự đánh giá. Ngoài ra, sinh viên khi đi thực tập còn phải tham gia các hoạt động như sinh hoạt chuyên môn của bộ môn và trường phổ thông, công tác chủ nhiệm lớp, sinh viên cũng phải dự giờ giáo viên hướng dẫn, lập kế hoạch giảng dạy, tự tìm hiểu thực tế địa phương...

            Để chuẩn bị cho sinh viên ra hành nghề mà thời gian kiến và thực tập cả hai đợt chỉ trong vòng 10 tuần, khoảng từ 6 đến 8 tín chỉ là quá ít so với yêu cầu nghề nghiệp. Việc đánh giá giờ dạy của sinh viên thực tập hoàn toàn do giáo viên hướng dẫn ở trường phổ thông sẽ không tránh khỏi yếu tố chủ quan của một người. Hiện nay, kết quả thực tập của sinh viên thường khá cao (thậm chí có đợt còn 100% được xếp loại Giỏi và Xuất sắc), nhiều khi không đúng với khả năng thực tế của sinh viên. Trong khi đó, giảng viên của khoa trực tiếp đào tạo, hiểu rõ lực học của sinh viên lại không được tham gia đánh giá kết quả thực tập của các em; đây là một sự bất cập trong qúa trình đào tạo giáo viên.

+ Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học 

            Hiện nay, ngoại trừ Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc là có cơ sở làm việc khang trang, rộng rãi; thư viện với hàng nghìn đầu sách quý; còn hầu hết các trường cao đẳng ở trong Vùng vẫn chưa có phòng học bộ môn cho sinh viên thực hành; trang thiết bị dạy học cũng còn rất thiếu thốn; thư viện lại nghèo về đầu sách, nhất là sách tham khảo cho giáo viên và sinh viênlàm đề tài nghiên cứu khoa học, khóa luận tốt nghiệp. Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân của hạn chế, yếu kém trong quá trình đào tạo giáo viên lịch sử ở Tây Bắc.   

+ Kết quả đào tạo

Trong những năm qua, Trường Đại học Tây Bắc, Trường Cao đẳng Cộng đồng Điện Biên, Trường Cao đẳng Cộng đồng Lai Châu, Trường Cao đẳng Cộng đồng Sơn La đã đào tạo được hàng chục nghìn giáo viên chuyên ngành Văn - Sử, Sử - Chính trị, Sử - Địa và Cử nhân Sư phạm Lịch sử (cả hai hệ chính quy và Vừa làm Vừa học)…phần nào đáp ứng yêu cầu sự nghiệp phát triển giáo dục cho các tỉnh Tây Bắc và cả nước. Riêng Trường Đại học Tây Bắc (trước đây là Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc), sau 57 năm xây dựng và phát triển đã đào tạo được 8.147 Cử nhân Sư phạm Lịch sử; Cử nhân Sư phạm Sử - Địa, Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Văn - Sử, Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Sử - Chính trị, Cử nhân Cao đẳng Sư phạm Sử - Địa[7]. Qua kết quả đào tạo giáo viên lịch sử của các khoa, trường sư phạm ở Tây Bắc chúng tôi có một số nhận xét sau:

Ưu điểm: 

Về kiến thức: Nhìn chung tất cả giáo viên lịch sử được đào tạo ở Tây Bắc đều khá vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ, được trang bị kiến thức tương đối toàn diện, hệ thống của khoa học lịch sử và khoa học giáo dục; cơ bản đáp ứng được yêu cầu giảng dạy ở các trường phổ thông. Ngoài ra, sinh viên sư phạm Sử còn biết cách vận dụng các kiến thức về ngoại ngữ và khoa học xã hội, tin học vào học tập các môn chuyên ngành, giảng dạy và công tác.

       Về kỹ năng:

+ Tất cả các sinh viên sư phạm lịch sử được đào tạo ở Tây Bắc đều biết cách vận dụng lý luận phương pháp dạy học vào dạy học bộ môn, cụ thể là các kỹ năng: thuyết trình, phân tích tổng hợp, đọc bản đồ, sử dụng tài liệu sách giáo khoa và xây dựng câu hỏi phát vấn...

+ Từng bước thực hiện đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học bộ môn…

  + Tổ chức được các hoạt động giáo dục, hoạt động phong trào (nhất là công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh) ở trường trung học phổ thông, trung học cơ sở và các cơ sở giáo dục.

       + Làm khá tốt công tác chủ nhiệm ở các khối lớp, biết cách xử lí những tình huống sư phạm và học sinh cá biệt.

       Về thái độ:

    + Sinh viên sư phạm lịch sử có nếp sống văn minh, ứng xử lịch sự, có ý thức đoàn kết tương trợ nhau trong cuộc sống và có một số ít giáo viên tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

  + Có phẩm chất tốt của người giáo viên xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thấm nhuần thế giới quan Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, có lý tưởng nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm cao, có đạo đức tốt, có tác phong mẫu mực của người giáo viên.

+ Hầu hết có phương pháp làm việc và tư duy khoa học, biết cách vận dụng lí luận về tâm lí học lứa tuổi giải quyết hiệu quả các vấn đề nảy sinh trong công tác chủ nhiệm lớp, quản lí điều hành lớp học.

    + Có ý thức tự giác, tích cực học hỏi vươn lên; tích cực tham gia công tác đánh giá giảng viên, qua việc lấy ý kiến phản hồi từ người học.

Hạn chế: 

Bên cạnh những ưu điểm trên, đội ngũ giáo viên lịch sử được đào tạo ở Tây Bắc còn có những hạn chế, yếu kém sau:

+ Đa phần giáo viên lịch sử ở Tây Bắc (cả trung học cơ sở và trung học phổ thông) chưa thành thạo trong dạy học bộ môn, số lượng giáo viên thành thạo, có kỹ năng kỹ sảo không nhiều.

+ Năng lực làm việc nhóm, sử dụng ngoại ngữ, ứng dụng tin học vào tìm kiếm tài liệu, thông tin về bộ môn lịch sử còn nhiều hạn chế; có thể nói, đây là lĩnh vực yếu kém nhất của giáo viên Tây Bắc.

+ Khả năng dạy học liên môn với các môn: Địa lý, Ngữ văn và các môn văn hóa nghệ thuật…của giáo viên Tây Bắc ít được thực hiện; hoặc đã được thực hiện nhưng hiệu quả không cao.

+ Không nắm chắc kiến thức lịch sử-văn hóa địa phương, ít tổ chức các hoạt động ngoại khóa và dạy học tại thực địa; không hoặc ít có điều kiện đi thực tế chuyên môn…

+ Không tự tìm kiếm được việc làm và tự tạo được việc làm sau khi tốt nghiệp; hoặc khả năng học chuyển đổi sang các ngành nghề khác là rất yếu…

Ngoài ra, một số kỹ năng về tường thuật, miêu tả, phân tích tổng hợp, nêu câu hỏi phát vấn cho học sinh, nhiều giáo viên cũng chưa thành thạo…

Thực trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ chính quá trình đào tạo của các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc, cụ thể:

+ Chương trình đào tạo chưa khoa học; quá trình đào tạo ít gắn với trường phổ thông và yêu cầu thực tế của giáo dục đào tạo các tỉnh Tây Bắc.

+ Số tín chỉ giữa các bộ môn khoa học cơ bản và bộ môn phương pháp dạy học, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên chưa hợp lý. Trong quá trình đào tạo vẫn thiên về trang bị kiến thức khoa học cơ bản cho sinh viên, chưa chú trọng đúng mức (yêu cầu tối thiểu) đến rèn nghề cho giáo sinh.

+ Ngay trong bộ môn phương pháp cũng chưa chú trọng chuyển đổi từ phương pháp dạy học truyền thống sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho người học.

+ Chưa có học phần chuyên dạy cho sinh viên về hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế; năng lực làm việc nhóm; hoặc về dạy học liên môn tích hợp tri thức giữa Lịch sử với Địa lý, Văn học và các bộ môn khoa học khác…

Từ thực trạng trên, đặt ra vấn đề cấp thiết phải có sự đổi mới căn bản qúa trình đào tạo giáo viên lịch sử trong các trường, khoa sư phạm hiện nay ở nước ta nói chung, Tây Bắc nói riêng; đối với đội ngũ giáo viên đang hành nghề ở các trường phổ thông hiện nay bắt buộc phải được đào tạo, đào tạo lại, mới có thể đáp ứng được yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa mới.

3. Một số kiến nghị và giải pháp

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phổ cập của chương trình giáo dục phổ thông mới, đặt ra vấn đề cấp thiết là phải đào tạo, đào tạo lại cho đội ngũ giáo viên lịch sử ở các trường phổ thông và đổi mới công tác đào tạo giáo viên trong các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc. Từ thực tế công tác nhiều năm ở Tây Bắc, tôi xin đề xuất một số định hướng và giải pháp sau đây:

3.1. Đối với các trường, khoa sư phạm

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với các nhà giáo dục và đặc biệt là PGS.TS. Ngô Minh Oanh[8], trong công tác đào tạo giáo viên lịch sử ở nước ta hiện nay cần thiết phải có sự đổi mới ở một số khâu sau:

Thứ nhất. Củng cố và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên các khoa đào tạo giáo viên Lịch sử

Theo chúng tôi, phải bắt đầu từ đội ngũ giảng viên theo hướng chuẩn hóa và nâng cao phẩm chất chính trị và năng lực sư phạm, đây là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo giáo viên ở các trường, khoa đào tạo giáo viên lịch sử ở nước ta nói chung, ở Tây Bắc nói riêng.Bởi lẽ với một nền giáo dục thì “không có một nền giáo dục nào có thể vượt qua được trình độ của đội ngũ giáo viên của nó”.

Vậy, tăng cường nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên ở các khoa đào tạo giáo viên lịch sử về những mặt nào ? cụ thể là: về phẩm chất chính trị; về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; thay đổi cách thức đào tạo giảng viên bộ môn Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử.

Thứ hai. Đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tăng cường thời lượng (tín chỉ) cho các môn đào tạo nghề (môn PPDH bộ môn, rèn luyện NVSP và kiến, thực tập của sinh viên) và chú trọng đến năng lực dạy học liên môn, hội nhập quốc tế, lịch sử-văn hóa địa phương và thực tế chuyên môn.

Để chuẩn kiến thức và đào tạo thành thạo nghề cho sinh viên, chương trình đào tạo cần phải tăng đáng kể thời lượng cho các môn đào tạo nghề, kỹ năng (năng lực) dạy học liên môn, làm việc nhóm, hội nhập quốc tế và thực tế chuyên môn... Ngoài ra, trong quá trình đào tạo, các trường, khoa sư phạm cũng phải chú trọng đến một số kỹ năng như: thuyết trình, giao tiếp, năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên.

Đổi mới công tác thực tập sư phạm và thực tế chuyên môn: Từ những bất cập trong tổ chức thực thập cho sinh viên, các khoa lịch sử phải phối hợp chặt chẽ với giáo viên phổ thông cùng tham gia hướng dẫn, đánh giá xếp loại thực tập sinh viên. Cần thiết phải cho sinh viên tiếp xúc với nghề (trường phổ thông) ngay từ năm đầu tiên khi các em bắt đầu bước vào trường sư phạm để quá trình gắn bó với trường phổ thông được dài hơn, hiểu biết về phổ thông sâu sắc hơn chứ không phải đợi đến những năm cuối mới xuống trường phổ thong thực tập. Làm sao đó để nghề sư phạm phải như ngành y, sinh viên sư phạm phải gắn kết với trường phổ thông trong suốt quá trình đào tạo. Chỉ có như vậy khi sinh viên ra trường mới không bị bỡ ngỡ như hiện nay; các em cần phải được liên tục, thường xuyên thực tập ở trường phổ thông, ở nhiều loại hình trường lớp (cả công lập, dân lập và tư thục; thành phố và nông thôn; trường tốt (trường chuyên, lớp chọn) và trường trung bình, trường yếu…), để hiểu biết một cách đầy đủ thực tế, tiếp xúc với nhiều đối tượng học sinh, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm, giảng dạy; có đủ vốn sống và kinh nghiệm nghề nghiệp để khi ra trường có thể công tác tốt ở bất kì ở loại trường lớp, vùng miền nào của hệ thống các trường phổ thông ở nước ta hiện nay.

Thứ ba. Không ngừng, tăng cường cơ sở vật chất cho các khoa đào tạo giáo viên Lịch sử (nhất là các phương tiện, đồ dùng dạy học, phòng dạy học bộ môn) và chăm lo đời sống cho giảng viên.

3.2. Đối với đội ngũ giáo viên lịch sử đang giảng dạy ở phổ thông

Để đáp ứng chương trình giáo dục và sách giáo khoa mới, đội ngũ giáo viên lịch sử phổ thông hiện nay cần thiết phải được đào tạo, đào tạo lại, nhất là một số kỹ năng sau:

+ Phải cập nhật những thành tựu mới của khoa học bộ môn (cả lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới và phương pháp dạy học bộ môn) liên qua trực tiếp đến chương trình sách giáo khoa lịch sử đang hiện hành.

+ Tăng cường bồi dưỡng, tập huấn thêm một số những chuyên đề về: làm việc nhóm, hợp tác quốc tế, lịch sử - văn hóa địa phương…

+ Cần thiết phải tăng cường bồi dưỡng về ngoại ngữ, tin học cho giáo viên, nhất là kỹ năng sử dụng ngoại ngữ để tìm kiếm tài liệu phục vụ cho bài giảng.

+ Về nghiệp vụ bộ môn, trong đó chú trọng đến bồi dưỡng một số kỹ năng: dạy học liên môn tích hợp tri thức; thuyết trình, tường thuật, miêu tả (hiện nay đang bị coi nhẹ); nêu câu hỏi phát vấn cho học sinh, dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh; tự học, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ…

+ Tăng cường hoạt động ngoại khóa, thực tế chuyên môn…

3.3. Đối với khu vực Tây Bắc

Ngoài những định hướng, giải pháp chung như đã trình bày ở trên, riêng ở khu vực Tây Bắc cần có những giải pháp mang tính đặc thù riêng, cụ thể như sau:

Thứ nhất. Để phù hợp với thực tế, các khoa, trường sư phạm ở Tây Bắc cần đưa Chữ Thái, Chữ Mông vào giảng dạy cho sinh viên sư phạm nói chung, sư phạm lịch sử nói riêng (ngoài các học phần Tiếng Anh)

Tây Bắc là địa phương miền núi, địa hình hiểm trở, bị cắt xẻ hết sức phức tạp, lại có 26 dân tộc thiểu số (Thái, Mông, Lự, Hoa, Kinh, Mường, Tày, Nùng, Dao, Kháng, Mảng, La Hủ, San Chí, Lào…), thuộc 3 ngữ hệ: Nam Á, Hán - Tạng, Thái - Kađai sinh sống, trong đó đông nhất là dân tộc Thái chiếm khoảng 53% dân số, dân tộc Mông chiến khoảng 17% dân số, còn lại là các dân tộc khác. Điều đặc biệt ở Tây Bắc, ngoài tiếng phổ thông thì tiếng Thái được coi là “Tiếng Anh” của Tây Bắc, có nghĩa là vào trong đồng bào các dân tộc: Mông, Lự, Hoa, Mường, Tày, Nùng, Dao, Kháng, Mảng, La Hủ… nói tiếng Thái ai cũng hiểu, thậm chí còn phổ biến hơn cả tiếng phổ thông hiện nay[9]. Do đó, dạy học ở vùng sâu, vùng xa, gần gũi với đồng bào các dân tộc mà bất đồng ngôn ngữ, không hiểu đồng bào nói gì thì hết sức bất cập; ngược lại, nếu giao tiếp được bằng tiếng Thái, tiếng Mông thì chẳng những dân vận tốt mà còn là một công cụ hết sức thuận lợi để tìm hiểu về lịch sử - văn hóa địa phương (bộ phận cấu thành của chương trìnhlịch sử chính khóa ở trường trung học cơ sở và trung họcphổ thông). Vì vậy, sinh viên sư phạm ở Tây Bắc nói chung, sinh viên sư phạm lịch sử nói riêng, ngoài Tiếng Anh, cần thiết phải được học thêm Chữ Thái, Chữ Mông. Để vấn đề này thành hiện thực, cần xây dựng thành những học phần tự chọn trong chương trình đào tạo; hoặc, đưa vào nội dung chương trình bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên vào các dịp hè cho giáo viên.

Thứ hai. Sinh viên sư phạm lịch sử ở Tây Bắc cần thiết được bồi dưỡng, tập huấn về dạy học lịch sử địa phương một cách bài bản và được học thêm học phần “Văn hóa địa phương”.

Cũng vì tính đặc thù trên của Tây Bắc, để giúp sinh viên sư phạm lịch sử có thể bước đầu hiểu được: vai trò của đồng bào các dân tộc Tây Bắc trong công cuộc lao động xây dựng đất nước, tạo dựng bản mường và đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, cùng những phong tục, tập quán, văn hóa, luật tục của họ, thì ngoài học phần “Cơ sở văn hóa Việt Nam” là môn học chung cho ngành khoa học xã hội, đối với sinh viên sư phạm lịch sử ở Tây Bắc cần thiết được học thêm học phần: “Văn hóa địa phương”.

Thứ ba. Đào tạo, bồi dưỡng tại chỗ (ở Tây Bắc) là giải pháp tốt nhất để có được đội ngũ giáo viên nội Vùng chất lượng cao, nhất là đội ngũ giáo viên lịch sử ở Tây Bắc.

Để làm được điều đó, cần thiết phải cơ cấu, sắp xếp lại các cơ sở đào tạo giáo viên ở Tây Bắc theo hướng chuyển thành những phân hiệu của các trường đại học Vùng hoặc là phân hiệu của các trường sư phạm trọng điểm để làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên. Riêng đối với Trường Đại học Tây Bắc, trước những yêu cầu mới về công tác đào tạo giáo viên, đòi hỏi Trường Đại học Tây Bắc phải không ngừng vươn lên- với tư cách vừa là chủ thể đào tạo, vừa là trung tâm của sự liên kết, hợp tác giữa các trường sư phạm trong Vùng, đồng thời cũng là cầu nối với các trường đại học sư phạm, trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu ở trong nước và quốc tế.

Thứ năm. Để tạo động lực mới và thu hút được nhiều nguồn lực trong nước, quốc tế cho công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ giáo viên ở Tây Bắc, đòi hỏi phải có sự quan tâm đặc biệt của Ủy ban Nhân dân các tỉnh Tây Bắc; Đảng - Chính phủ cần thiết ban hành chính sách “Đặc thù”, trong đó có chế độ đãi ngộ cho giáo viên ở Tây Bắc - nơi được coi là “Địa đầu” của Tổ quốc.

KẾT LUẬN

Trường đại học sư phạm nói chung và các khoa đào tạo giáo viên lịch sử nói riêng là những “máy cái” đào tạo đội ngũ giáo viên các trường phổ thông. Những ưu điểm và hạn chế của những chiếc “máy cái” này sẽ tác động dây chuyền rất lớn đến chất lượng đào tạo ở trường phổ thông.

Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục ở trường phổ thông trước hết phải bắt đầu từ các trường sư phạm. Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, qúa trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông và hoạt động đào tạo giáo viên lịch sử của các trường, khoa sư phạm ở Tây Bắc cũng không nằm ngoài quy luật đó.

“Đầu tư đổi mới đào tạo giáo viên lịch sử ở các trường, khoa sư phạm là một đòi hỏi cấp bách không chỉ đáp ứng sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục mà cao hơn nữa là giáo dục truyền thống, cội nguồn để cho nhiều thế hệ học trò - những công dân tương lai của đất nước không bị “vong bản” trên chính quê hương, tổ quốc của mình”[10]

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020. BCĐ Tây Bắc 12/2015

2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011).Kỷ yếu Hội nghị Toàn quốc các trường Sư phạm, Hà Nội, tháng 8 năm 2011.

3. Dự án phát triển giáo viên THPT và TCCN (2009), Mô hình đào tạo, chương trình đào tạo, quản lý đào tạo và biên soạn giáo trình trong dào tạo giáo viên, tr.14 -15.

4. Trường ĐHSP Hà Nội (2012), Cơ sở lý luận của việc đổi mới đào tạo giáo viên, Hà Nội.

5. Phạm Văn Lực (1996) “Cải tiến phương pháp dạy học lịch sử phù hợp các trường phổ thông ở Tây Bắc”. Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử theo hướng lấy học sinh làm trung tâm; Trung tâm Nội dung- Phương pháp -Viện khoa học Giáo dục; ĐHQG Hà Nội (từ trang 266 đến 273).

6. Phạm Văn Lực (2011). “Một số vân sđề lịch sử và văn hoá Tây Bắc (Tập 1)”. Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Hà Nội.

7. Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (2001): Giáo trìnhPhương pháp dạy nhọc lịch sử ở trường phổ thông”. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội.

8. Nguyễn Hữu Châu – Nguyễn Văn Cường – Trần Bá Hoành – Nguyễn Bá Kim – Lâm Quang Thiệp (2007).Đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên trung học cơ sở theo chương trình CĐSP mới. Bộ GD-ĐT, Dự án đào tạo giáo viên THCS, HN.

9. Ngô Minh Oanh - Chủ nhiệm (2003). “Đội ngũ giáo viên lịch sử trung học phổ thông khu vực Miền Đông Nam Bộ: Thực trạng và giải pháp”. Đề tài Nghiên cứu Khoa học cấp Bộ, Mã số: B2000-23-27.

10. Ngô Minh Oanh (2012). “Đào tạo giáo viên Lịch sử THPT ở các trường, khoa Sư phạm Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc gia về dạy học lịch sử ở trường phổ thông Việt Nam, NXB Giáo dục , Hà Nội, tr.668-680.

11. Số liệu của Tổng cục thống kê từ 12/2014 đến 12/2016

12. Số liệu điều tra thực tế tại các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu (Tháng 12/2016).       

                                                                                                                                                   Tác giả: PGS.TS. Phạm Văn Lưc