Trường cấp II Khu Tự trị Thái-Mèo với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc

TRƯỜNG CẤP II KHU TỰ TRỊ THÁI - MÈO

 VỚI NHIỆM VỤ ĐÀO TẠO ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TẠI CHỖ CHO CÁC TỈNH 

TÂY BẮC (1960 - 1965)

 

                                                              PGS.TS. Phạm Văn Lực

                                                                Khoa Sử - Địa, Trường Đại học Tây Bắc

           

Tây Bắc một phần của lãnh thổ Việt Nam, một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam, là địa bàn sinh sống lâu đời của trên 20 dân tộc anh em: Thái, Mông, Lự, Hoa, Kinh, Mường, Tày, Dao, La Ha, Khơ Mú, Hà Nhì, Kháng, Mảng…[1] Trong lịch sử cũng như hiện nay, Tây Bắc có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng và trong quan hệ giao lưu quốc tế.

Thế nhưng, sau năm 1954 Tây Bắc vẫn trong tình trạng nghèo nàn lạc hậu, trên 90 % dân số mù chữ, có những xã, bản không một ai biết tiếng phổ thông, nhiều hủ tục lạc hậu tàn dư của chế độ cũ vẫn trực tiếp chi phối đời sống sinh hoạt của nhân dân... Để xóa bỏ tình trạng mù chữ dốt nát trong đồng bào các dân tộc, Đảng - Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có nhiều biện pháp tích cực, như đưa giáo viên từ miền xuôi lên tăng cường cho Tây Bắc, thành lập các trường sư phạm để làm nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc, trong đó có Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái – Mèo. Nhân kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ lên thăm Tây Bắc (7.5.1959 - 7.5.2019) và quán triệt Chỉ thị 05 (15.5.2016) về: “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, trong phạm vi của bài viết này tôi xin đề cập đến sứ mạnh lịch sử của Trường cấp II Khu tự trị Thái - Mèo trên mặt trận văn hóa giáo dục Tây Bắc, cụ thể như sau: 

Nội dung

1.  Tình hình Tây Bắc sau hòa bình lập lại (1954) và sự thành lập Trường Cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954), cùng với các địa phương trên miền Bắc, toàn bộ Khu Tây Bắc được giải phóng. Đó là điều kiện thuận lợi để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội ở Tây Bắc trong giai đoạn cách mạng mới.

Do hậu quả thống trị, bóc lột tàn bạo của đế quốc phong kiến và sự tàn phá của chiến tranh, nên sau ngày hòa bình lặp lại, Tây Bắc chìm ngập trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu, mù chữ dốt nát; đời sống của đồng bào các dân tộc khó khăn, đói rách; tàn dư cả chế độ cũ cùng các hủ tục lạc hậu còn ảnh hưởng nặng nề trong đời sống nhân dân; các phần tử tay sai phản động điên cuồng chống phá cơ sở Đảng, chính quyền ở Tây Bắc, nhiều vụ “xưng Vua”, “đón Vua” diễn ra lộn xộn ở vùng biên giới.

Trong khi đó, chính quyền cơ sở ở Tây Bắc còn rất non yếu, nhận thức của đồng bào các dân tộc thấp kém, thiếu cán bộ cốt cán, nhất là cán bộ người dân tộc. Năm 1955, toàn khu có 16 châu thì 9 châu chưa thành lập được chi bộ Đảng. Trong tổng số 316 xã, mới có 39 xã thành lập được chi bộ Đảng cơ sở; số lượng đảng viên chỉ chiếm 0,08% dân số, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, mặt trận tổ quốc chưa được hình thành. Thậm chí cá biệt, ở một số địa phương vùng biên giới, chính quyền cơ sở non yếu đến mức không có khả năng tổ chức và lãnh đạo nhân dân các dân tộc phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống, ổn định xã hội.

Trước những khó khăn, phức tạp trên, Đảng, Chính phủ đã kịp thời đề ra chủ trương đúng đắn, khẩn trương thực hiện “cứu đói”, “cứu rách”, huy động quân đội tiễu trừ thổ phỉ, kiên quyết tiêu diệt các toán biệt kích thám báo, củng cố chính quyền cơ sở, giữ vững an ninh chính trị; mặt khác, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ để nâng cao nhận thức trong đồng bào.

Ngày 29/9/1954, Trung ương Đảng ra Nghị quyết về việc thành lập Khu Tự trị Thái - Mèo và vận động đồng bào các dân tộc thực hiện. Ngày 29/4/1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 230/SL thành lập Khu Tự trị Thái - Mèo. Đến ngày 7/5/1955, Hội đồng nhân dân Khu họp kỳ đầu tiên, công bố Sắc lệnh thành lập Khu Tự trị.

Mục đích của việc thành lập Khu Tự trị được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Mục đích lập Khu Tự trị Thái - Mèo là làm cho các dân tộc anh em dần dần tự quản lý lấy mọi công việc của mình, mau chóng phát triển kinh tế và văn hóa của mình để thực hiện các dân tộc bình đẳng về mọi mặt... Nó sẽ luôn được sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng, Chính phủ và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em khác”.

Nhân dịp kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, từ ngày 7 đến ngày 9/5/1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng đoàn công tác của Đảng-Chính phủ lên thăm Tây Bắc. Trong bài nói chuyện ở Sân vận động Thị trấn Thuận Châu (7/5/1959), Người căn dặn cán bộ, chiến sỹ và đồng bào các dân tộc nhiều việc, trong đó nhấn mạnh: “Phát triển bình dân học vụ khắp nơi, phải làm thêm nhà trường cho con em có chỗ học...trong mọi công việc, phải ra sức giúp đỡ đồng bào rẻo cao

Thời điểm đó, đại bộ phận đồng bào các dân tộc Tây Bắc vẫn còn mù chữ. Hòa bình vừa mới lập lại chưa lâu, còn bao khó khăn thiếu thốn cần giải quyết. Nhưng tư tưởng của Bác luôn nhất quán: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Cách mạng tháng Tám 1945 thắng lợi, Bác đã phát động phong trào bình dân học vụ để diệt một trong những “đồng minh của giặc ngoại xâm”“giặc dốt”. Nay hòa bình đã lập lại, Bác muốn cả dân tộc phải thoát khỏi tình trạng mù chữ, nâng cao nhận thức, làm chủ cuộc sống của mình. Lời dạy đó của Bác là sự khởi đầu cho những bước phát triển không ngừng của giáo dục cả nước nói chung, Tây Bắc nói riêng về những năm sau này.

Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 15 - 8 - 1959, Phủ Thủ tướng  ra Thông tư Số: 3116-A7 quyết định điều động giáo viên Cấp 1,2,3 ở các tỉnh miền xuôi lên miền núi công tác, Thông tư nêu rõ: “Hiện nay việc phát triển văn hóa giáo dục ở các tỉnh miền núi đang đòi hỏi một cách cấp thiết vì tình hình giáo dục ở các nơi ấy tiến quá chậm. Muốn phát triển được giáo dục điều trước tiên là phải làm cho miền núi có nhiều giáo viên, hướng chính để giải quyết vấn đề giáo viên cho miền núi “là đào tạo thật nhiều cán bộ, giáo viên người địa phương. Nhưng trong tình hình thực tế hiện nay thì số người dân tộc biết chữ để làm giáo viên còn rất ít, có nơi không có, như vậy trong thời gian trước mắt không thể nào không đặt ra vấn đề điều động giáo viên miền xuôi lên công tác ở các tỉnh miền núi nhất là Tây bắc, Hải ninh, Hòa bình, Lào cai, v.v…

Việc điều động hàng loạt giáo viên cấp 1, 2, 3 lên phục vụ miền núi lần này là lần đầu tiên trong sự nghiệp phát triển văn hóa giáo dục ở các vùng dân tộc, cho nên phải hết sức chú trọng lãnh đạo tư tưởng tốt và đề phòng các thiếu sót có thể xảy ra như mệnh lệnh, quan liêu, v.v…[2] 

Chủ trương đúng đắn của Đảng - Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Khu ủy và Ủy ban Hành chính Khu Tự trị Thái - Mèo, cùng Tỉnh ủy - Ủy ban Hành chính các tỉnh Tây Bắc và các tỉnh miền xuôi nhanh chóng triển khai thực hiện. Tháng 9-1959, Phong trào xung phong lên phát triển văn hóa giáo dục miền núi, nhất là ở Tây Bắc đã được phát động; nhiều cán bộ, giáo viên miền xuôi đã hăng hái xung phong lên phát triển văn hoá giáo dục ở Tây Bắc.

Nghe theo tiếng gọi của Đảng - Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 1959, có 860 giáo viên hầu hết đều là anh chị em giáo viên Quốc lập và Dân lập, cấp I và một số giáo viên cấp II, cấp III của 11 tỉnh miền xuôi[3] (riêng tỉnh Hà Nam có 48 giáo viên xung phong lên Tây Bắc, trong đó có NGƯT. Nguyễn Thanh Đàm công tác ở Yên Bái) đã xung phong lên phát triển văn hóa giáo dục ở Tây Bắc.

Trước khi lên Tây Bắc, 860 giáo viên được học tập chính trị 1 tháng (từ 15-9 -1959 đến 15-10-1959) tại Trường Bổ túc Công nông Trung ươngở Giáp Bát (Hà Nội) và lớp học đã vinh dự được đón Bác Hồ đến thăm hỏi và động viên (vào hồi 13 giờ 30 phút, ngày 22 - 9-1959), trong bài nói chuyện Người căn dặn: “Công tác ở miền núi có nhiều khó khăn, các cô, các chú xung phong gánh lấy những khó khăn để làm công tác giáo dục ở miền núi, thế là tốt, là vẻ vang. Nhưng các cô chú cần xung phong đến nơi đến chốn.Cần có tinh thần bền bỉ, quyết tâm khắc phục mọi khó khăn, làm tròn nhiệm vụ[4].

Sau khi được chỉnh  huấn,  ngày 15 - 10 - 1959, vượt qua muôn vàn khó khăn gian khổ, đoàn giáo viên miền xuôi bắt đầu lên đường đi Tây Bắc. Trong số 860 giáo viên năm đó, có hơn 100 giáo viên được phân về công tác ở các huyện: Đà Bắc, Lạc Thủy, Lạc Sơn, Mai Châu của tỉnh Hòa Bình. Còn lại,hầu hết lênnhận công tác ở 16 châu của Khu Tự trị Thái - Mèo (sau đổi tên là Khu Tự trị Tây Bắc), đó là: Mường Tè, Mường Lay,Sình Hồ (nay viết là Sìn Hồ), Điện Biên, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Tuần Giáo, Thuận Châu, Mường La, Mai Sơn, Yên Châu, Mộc Châu, Phù Yên (cả Bắc Yên), Phong Thổ (thuộc tỉnh Lào Cai), Than Uyên,Văn Chấn (thuộc tỉnh Yên Bái).

Cùng với phong trào vận động giáo viên miền xuôi tình nguyện lên công tác ở Tây Bắc, Đảng - Chính phủ cũng đặc biệt chú trọng đến công tác đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc. Trên tinh thần đó, ngày 30 - 6-1960 Bộ Giáo dục đã ký Quyết định số 267 thành lập Trường Sư phạm cấp II, Khu tự trị Thái - Mèo (sau đổi tên là Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc)[5]. Quyết định của Bộ Giáo dục đã nêu rõ:

“Điều 1. Nay thành lập các trường Sư phạm cấp II liên tỉnh với nhiệm vụ đào tạo giáo viên cấp II về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên để cung cấp cho nhu cầu phát triển nền giáo dục phổ thông trong toàn miền Bắc ...Trường Sư phạm cấp II đặt ở Khu Tự trị Thái - Mèo có nhiệm vụ thu nhận giáo sinh ở trong Khu tự trị ...

Điều 2. Trường đặt tại địa phương nào thì do UBHC tỉnh, khu đó giúp Bộ quản lý về mọi mặt: trường sở, cán bộ, học sinh và chuyên môn. Riêng việc xây dựng chỉ tiêu kế hoạch đào tạo và kế hoạch phân giáo sinh tốt nghiệp thì do Bộ phụ trách. Chi phí các trường đều do ngân sách của Bộ Giáo dục đài thọ.

Điều 3. Mỗi trường Sư phạm cấp II có một ban giám hiệu (một Hiệu trưởng và một Hiệu phó) phụ trách và ba bộ phận giúp việc: Giáo vụ - Tổ chức - Hành chính Quản trị...”.

Ngày 07/7/1960, Bộ Giáo dục tiếp tục ra Quyết định bổ sung số 272/QĐ về cơ chế quản lý Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo, cụ thể như sau:

“Điều 1. Nay thêm vào Điều 2 quyết định số 267/QĐ ngày 30/6/1960 thành lập các trường Sư phạm cấp II như sau:

Trường Sư phạm cấp II đặt tại Khu Tự trị Thái - Mèo do ngân sách của Khu Tự trị đài thọ và do Khu quản lý mọi mặt...”.

Thực hiện Quyết định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục, khoảng giữa tháng 10 năm 1960, Lễ công bố Quyết định thành lập Trường Sư phạm cấp II đặt ở Khu Tự trị Thái - Mèo (thường gọi là Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo) được tổ chức tại Sân vận động Khu Học xá Mường La với sự tham dự của đông đảo giáo viên, cán bộ Khu Học xá, nhân đân địa phương và đại biểu của Khu ủy, Ủy ban hành chính Khu Tự trị Thái - Mèo.

Ngay sau khi thành lập, Trường Sư phạm cấp II Khu tự trị Thái - Mèo đã mở được 5 lớp ngắn hạn, đào tạo cấp tốc (3 tháng, 6 tháng) với trên 200 giáo sinh cấp 1, kịp thời bổ sung vào đội ngũ giáo viên các tỉnh Tây Bắc lúc bấy giờ.

 Có thể nói, sự ra đời của Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo là sự kiện lịch sử trọng đại đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục ở Tây Bắc. Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo được thành lập không chỉ đáp ứng được yêu cầu đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh miền núi Tây Bắc, đặc biệt là đội ngũ giáo viên dân tộc thiểu số ở địa phương, mà còn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng-Chính phủ và Hồ Chủ tịch đối với đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Từ mái trường này nhiều con em các dân tộc Tây Bắc sẽ được giáo dục, rèn luyện trở thành thầy, cô giáo - những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, trực tiếp mang ánh sáng của Đảng đến tận các bản làng Tây Bắc xa xôi, thắp lên ngọn đèn văn hóa.

2. Trường Sư phạm Cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo với nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc (1960-1965)

  Những năm đầu mới thành lập, tình hình Nhà trường khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt. Khi công bố Quyết định thành lập, Trường chưa có  Hiệu trưởng, cơ sở vật chất hầu như chưa có gì, cả Trường chỉ có 12 giáo viên, Người được giao phụ trách Trường lúc đó là thầy Đỗ Mộng Bảo, mọi sinh hoạt của giáo viên và giáo sinh đều ghép chung với Khu Học xá Mường La.

Để khai giảng được khóa học đầu tiên, hầu hết giáo viên của Trường phải về tận các bản, làng để chiêu sinh. Số giáo sinh này kết hợp cùng với những giáo viên cấp 1 và những người đã học sơ cấp ở Trường Sư phạm Miền núi Trung ương (Hà Nội) được Khu cử vào Trường học trung cấp, hệ 7+2. Năm học đầu tiên (1960 - 1961), toàn Trường có 152 giáo sinh, biên chế thành 05 lớp: 02 lớp Tự nhiên, 02 lớp Xã hội và 01 lớp cấp tốc. Riêng lớp cấp tốc (hay còn gọi là lớp vệ tinh, có khoảng 20 giáo sinh, dành cho con em các dân tộc ít người chưa tốt nghiệp cấp II) chỉ đào tạo các môn Tự nhiên.

Năm 1961, Nhà trường mở thêm hệ hàm thụ (đào tạo cả Tự nhiên và Xã hội) dành cho những giáo viên đã tốt nghiệp Sư phạm Tiểu học về Trường học tập trung 2 kỳ. Phần lớn giáo viên tốt nghiệp đều trở thành cốt cán chuyên môn ở các trường phổ thông và phòng giáo vụ huyện.

Do khó khăn thiếu thốn về tài liệu và cơ sở vật chất phục vụ dạy học nên hầu hết các bài giảng và đồ dùng dạy học, giáo viên đều phải tự biên soạn và thiết kế lấy.

Sau khi kết thúc năm học đầu tiên, cuối năm 1961, Khu Học xá chuyển địa điểm từ châu Mường La về thị trấn Thuận Châu -  lúc đó là thủ phủ của Khu Tự trị Thái – Mèo (Khu Học xá đóng tại bản Hìn châu Mường La nên thường gọi là Khu Học xá Mường La - nay là khu Nhà nghỉ Công đoàn thuộc phường Chiềng Lề, Thành phố Sơn La. Khu học xá có: Trường Sơ cấp Sư phạm, Trường Trần Đăng Ninh hay còn gọi là Trường Thiếu nhi các dân tộc, Trường Bổ túc Thanh niên các dân tộc, Trường Phổ thông Lao động. Từ năm 1960 thêm Trường Sư phạm cấp II. Khi chuyển về Thuận Châu (Sơn La) Khu Học xá có 3 trường: Trường Sư phạm Cấp II, Hiệu trưởng là thầy Lường Văn Cúc; Trường Bổ túc Công - Nông, Hiệu trưởng là thầy Lò An Bình; Trường Thanh niên Dân tộc, Hiệu trưởng là thầy Lê Khánh Tể - Chủ tịch Công đoàn Khu Học xá).

 Sau đó, Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo được Khu cấp đất xây dựng Trường tại thị trấn Thuận Châu với diện tích mặt bằng quản lý là 15,16 ha.

Năm 1962, Khu Tự trị Thái - Mèo đổi tên gọi là Khu Tự trị Tây Bắc. Để phù hợp với đơn vị hành chính mới của Khu, Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo đổi tên gọi là Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Tây Bắc (gọi tắt là Sư phạm cấp II Tây Bắc).

Từ khi chuyển về Thuận Châu, Trường Sư phạm cấp II Tây Bắc có bước phát triển mới. Lúc này đội ngũ giáo viên của Trường tăng lên nhanh chóng. Nhiều giáo viên tiếp tục được Bộ Giáo dục cử lên tăng cường cho Nhà trường. Đến năm học 1964 - 1965, tổng số giáo viên, cán bộ của Trường là 67 người.

Về công tác đào ạo, hằng năm, Nhà trường cử cán bộ về các địa phương của Tây Bắc tiếp nhận hồ sơ và đón các giáo sinh về Trường học tập, rèn luyện. Số lượng giáo sinh là con em các dân tộc Tây Bắc tựu trường ngày một đông. Năm học 1963 - 1964, Trường có 347 giáo sinh, được biên chế thành 7 lớp, trong đó có 01 lớp “đặc cách” (có khoảng 30 giáo sinh). Năm 1964, hai ban đào tạo Tự nhiên và Xã hội được hình thành, Trường bắt đầu mở hệ 7+3, gồm có 01 lớp Tự nhiên, 01 lớp Xã hội với tổng số khoảng 50 giáo sinh.

Về cơ sở vật chất, năm học đầu ở Thuận Châu (1961 - 1962), Trường có 1 nhà ăn tập thể phục vụ chung cho cả giáo viên, cán bộ và giáo sinh, 1 sân vận động để tổ chức các hoạt động chung, 3 dãy nhà tập thể của giáo viên, 7 lớp học và nhà ở của giáo sinh. Tất cả nhà ở, lớp học của Trường đều là nhà gianh tre, vách đất do thầy, trò tìm kiếm vật liệu tự làm lấy. Sau hơn 4 năm xây dựng, đến năm 1965, Trường đã có 09 dãy nhà xây lợp ngói và 12 nhà toóc xi lợp gianh. Riêng chỗ ở của giáo sinh vẫn còn nhà gianh tre, vách đất.

Tuy chưa khang trang, nhưng hệ thống cơ sở vật chất đó về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu công tác, đào tạo cùng những sinh hoạt của cán bộ, giáo viên, giáo sinh Nhà trường. Đây là tiền đề quan trọng để Nhà trường mở rộng quy mô đào tạo.

Cùng với sự phát triển của Nhà trường, tổ chức Công đoàn, Đoàn Thanh niên cũng từng bước lớn mạnh. Đến năm 1965, Liên chi đoàn có 07 chi đoàn với trên 300 đoàn viên; Công đoàn Nhà trường có gần 100 đoàn viên (cả giáo viên và cán bộ).

Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được coi là một trong những thế mạnh của Trường. Các đội văn nghệ, bóng đá, bóng chuyền của Trường tham gia các kỳ hội thao, hội diễn của tỉnh, Khu đều đoạt giải. Tháng 10/1963, tỉnh Sơn La (mới tái lập) tổ chức Giải bóng đá Liên ngành, đội bóng đá nam của Trường tham gia thi đấu đạt Giải B.

Là một trường đóng ở địa phương miền núi Tây Bắc, nghèo nàn lạc hậu, xa Trung ương, giao thông liên lạc hết sức khó khăn..., nhưng sau 5 năm xây dựng, Trường Sư phạm cấp II Tây Bắc đã có sự vươn lên phát triển nhanh chóng về mọi mặt. Đến năm 1965, Nhà trường đã dào tạo được trên 700 giáo viên có trình độ cao đẳng cho các tỉnh Tây Bắc. Có thể nói, trong những năm 1960 - 1965, Trường Sư phạm cấp II Tây Bắc thực sự là trung tâm đào tạo cán bộ cách mạng người dân tộc thiểu số tiêu biểu ở Tây Bắc.

Trong số những giáo sinh tốt nghiệp của Trường, nhiều người đã trở thành cán bộ chủ chốt trong các ban, ngành của các tỉnh Tây Bắc, trong đó có các đồng chí: Lò Tiến Thâm, Trần Quang Ân, Cầm Thị Chiêu, Lò Thị Hải Yến, Hoàng Kim Thông, Quàng Văn Binh, Trần Luyến, Trần Du Luyện… (Ông Lò Tiến Thâm - nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tây Bắc; ông Trần Quang Ân - nguyên Hiệu trưởng Trường Trung học Sư phạm Sơn La; bà Cầm Thị Chiêu - nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Sơn La; bà Lò Thị Hải Yến - nguyên Vụ phó Vụ Giáo dục Mầm non; ông Hoàng Kim Thông - nguyên Trưởng khoa Toán - Lí, Trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc; ông Quàng Văn Binh - nguyên Chủ tịch tỉnh Điện Biên; ông Trần Luyến - nguyên Giám đốc Sở Văn hóa Sơn La; ông Trần Du Luyện - nguyên Phó Giám đốc Sở Giáo dục - Đào tạo Sơn La).

3. Sự phát triển của văn hóa giáo dục các tỉnh Tây Bắc (1960 - 1965)

Năm 1960, Khu tự trị Thái-Mèo vẫn còn trên 70% dân số mù chữ, cả Khu Tây Bắc, số người có trình độ đại học là 1 người/vạn dân, 2 người có trình độ cấp III, 19 người có trình độ cấp II, 142 người có trình độ cấp I, 112 người biết đọc biết viết và 27 người đang học vỡ lòng/vạn dân.

Nguyên nhân của thực trạng đó là do nhận thức của đồng bào các dân tộc còn thấp; thiếu cán bộ cốt cán, nhất là cán bộ người dân tộc ở cơ sở; lực lượng giáo viên miền xuôi lên tăng cường cho Tây Bắc vừa ít về số lượng, lại có sự khác biệt về phong tục, tập quán với đồng bào các dân tộc, bất đồng về ngôn ngữ... nên chưa thể làm thay đổi trình độ dân trí của khu. Trong khi đó, Trường Sư phạm Miền núi Trung ương đặt trụ sở tại Thủ đô Hà Nội, khoảng cách xa xôi, giao thông bất tiện, gây không ít khó khăn cho công tác đào tạo giáo viên cho khu vực miền núi Tây Bắc.

Từ khi Đảng - Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh có chủ trương điều giáo viên miền xuôi lên tăng cường cho các tỉnh Tây Bắc (1959) và quyết định thành lập Trường Sư phạm cấp II Khu tự trị Thái - Mèo (1960) với nhiệm vụ chính trị là đào tạo giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc đã tạo ra bước ngoặt căn bản cho sự nghiệp văn hóa giáo dục nơi đây.

 Đến 1965, giáo dục phổ thông các tỉnh Tây Bắc có sự phát triển mạnh mẽ: hệ thống giáo dục phổ thông đã được hình thành ở cả ba cấp học cấp 1, cấp 2, cấp 3; toàn Khu đã có 8 trường cấp 3 (Lai Châu 2 trường cấp 3, Sơn La có 4 trường cấp 3, Nghĩa Lộ 2 trường cấp 3); số học sinh đến lớp ở các tỉnh đều đạt trên 95% (riêng Sơn La đã có 5 vạn người được xóa mù, 2 vạn người theo học bổ túc, cứ 1000 dân có 65 học sinh)[6]. Phong trào bổ túc văn hóa và thanh toán nạn mù chữ phát triển ngày càng rộng. Hàng vạn người đã thoát nạn mù chữ. Người Mèo đã có chữ riêng, chữ Thái được cải tiến và đang được phổ cập rộng. Bệnh viện, bệnh xá được xây dựng ngày một nhiều. Cứ 3000 người dân có một y, bác sĩ. Nhân dân ốm đau, sinh đẻ có thuốc dùng và được điều trị tại các bệnh viện, bệnh xá. Nhiều dịch bệnh hàng năm đe dọa khủng khiếp đến tính mệnh của nhân dân các dân tộc trước đây, ngày nay đã căn bản được dập tắt. Tệ nạn cúng bái, mê tín dị đoan giảm nhiều so với trước. Đây là thành quả to lớn của giáo dục phổ thông các tỉnh Tây Bắc từ 1960 đến 1965.

Nhờ vậy từ năm 1965, khi chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của giặc Mỹ diễn ra trên địa bàn Tây Bắc, số lượng học sinh trong Khu không những không bị giảm mà ngày càng tăng, riêng hệ học sinh phổ thông đã đạt 100 học sinh / 1000 dân, một số vùng của Sơn La có 200 học sinh /1000 dân, phong trào bổ túc văn hóa vẫn được duy trì đều đặn ở khắp các địa phương và trong các nhà máy, xí nghiệp…Hoạt động văn hóa, tinh thần thời kì này lại hết sức sôi động, phong trào “tiếng hát át tiếng bom ” trở thành một phong trào sâu rộng trong quần chúng nhân dân các dân tộc. Công tác thông tin, cổ động được tỏa rộng khắp các cơ sở, ngoài các tờ báo của Trung ương, hai tờ báo của Sơn La và Lai Châu đã kịp thời đăng tải  những tin tức thời sự , gương người tốt, việc tốt, có ý nghĩa giáo dục sâu rộng trong nhân dân các dân tộc…Hoạt động văn hóa, văn nghệ thời chiến đã có tác dụng rất lớn trong việc tuyên truyền, cổ động nhân dân các dân tộc nâng cao ý chí quyết chiến, quyết thắng và tinh thần lạc quan cách mạng, tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng và chiến đấu.

KẾT LUẬN

Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái – Mèo được thành lập ngày 30 tháng 6 năm 1960 – ngôi trường đầu tiên và cũng là duy nhất ở Tây Bắc trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo làm nhiệm vụ đào tạo giáo viên tại chỗ cho các tỉnh Tây Bắc.

  Từ khi thành lập, Nhà trường đã khắc phục mọi khó khăn gian khổ không ngừng vươn lên về mọi mặt và luôn hoàn thành xuất sắc xứ mạnh lịch sử vô cùng to lớn đối với sự nghiệp phát triển văn hóa giáo dục ở Tây Bắc trong những năm 1960-1965. Trong 5 năm (1960-1965), Trường Sư phạm Cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo đã đào tạo được trên 700 giáo viên các cấp, tuyệt đại đa số là con em các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc. Đây chính là những chiến sĩ trên mặt trận văn hóa, trực tiếp mang ánh sáng của Đảng đến tận các bản làng Tây Bắc xa xôi, thắp lên ngọn đèn văn hóa.

  Trong quá trình xây dựng, phát triển mặc dù vẫn còn nhiều vấn đề cần phải khắc phục, uốn nắn, nhưng vị trí, vai trò của Trường vẫn không thể bị phủ nhận; đặc biệt từ khi Nhà trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng sư phạm Tây Bắc (1981) và Trường Đại học Tây Bắc (2001).



[1]Bùi Tịnh và Cầm Trọng, Nguyễn Hữu Ưng: Các tộc ngư­ời ở Tây Bắc Việt Nam. Ban dân tộc Khu Tây Bắc xuất bản năm 1975

[2]Thông tư của Phủ Thủ tướngSố: 3116-A7, ngày 15 tháng 08 năm 1959: Về việc điều động giáo viên Cấp 1,2,3 ở các tỉnh miền xuôi lên miền núi công tác. Tài liệu lưu tại Văn phòng Phủ thủ tướng Chính phủ.

[3]11 tỉnh đó là: Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nam, Hà Nội, Hà Đông, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây, Vĩnh Phúc.

[4]Nguyễn Thanh Đàm: Họ đã “xung phong đến nơi đến chốn”. Hướng tới kỷ niệm 60 năm Ngày Bác Hồ thăm Yên Bái (25/9/1958 - 25/9/2018).Báo Yên Bái ngày 10-8-2018

[5]Quyết định thành lập Trường Sư phạm cấp II Khu Tự trị Thái - Mèo.Tài liệu lưu tại Trường Đại học Tây Bắc.

[6] Tổng hợp số liệu từ Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sơn La 1954-1975 (tr.85) và Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lai Châu 1945-1975 (tr.282)

Đào tạo, Đào tạo lại đội ngũ giáo viên Lịch sử ở Tây Bắc đáp ứng chương trình, SGK mới

ĐẶT VẤN ĐỀ

Để tiến tới triển khai chương trình, sách giáo khoa mới vào năm học 2020-2021, ngày 2 tháng 5 năm 2018 Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Kế hoạch số 270 về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông để thực hiện chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới.

Xem thêm: Đào tạo, Đào tạo lại đội ngũ giáo viên Lịch sử ở Tây Bắc đáp ứng chương trình, SGK mới